--Quảng cáo---

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tư vấn pháp luật - Báo TN&MT - 16:34 24/03/2022

(TN&MT) - Bạn đọc Nguyễn Hồng Nam (An Giang) hỏi: Gia đình tôi và hàng xóm đang có tranh chấp về đất đai. Hai bên đã nhiều lần nói chuyện và không tìm ra phương pháp giải quyết. Xin hỏi, để giải quyết tranh chấp này gia đình tôi sẽ phải làm thủ tục gì? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa các hộ dân?

Vấn đề này Báo Tài nguyên & Môi trường tư vấn như sau:

Luật đất đai năm 2013 quy định, chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai gồm: Tòa án nhân dân, Ủy ban nhân dân và Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Về trình tự, tranh chấp đất đai sẽ được giải quyết từ việc tự hòa giải, sau khi các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì được giải quyết tại Tòa án nhân dân. Cụ thể các bước giải quyết như sau:

Tự hòa giải là việc các bên tranh chấp tự tiếp xúc với nhau, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp để đàm phán, trao đổi và đi đến giải quyết tranh chấp, kết quả giải quyết tranh nếu đạt được thành công thì đó là kết qủa của sự thống nhất ý chí giữa các bên tranh chấp. Hòa giải tại cơ sở là việc hòa giải được tiến hành tại thôn, xóm, ấp, bản, khu phố do ban hòa giải cơ sở tiến hành theo pháp luật hòa giải tại cơ sở năm 2013.

tranh-chap.jpg
Nếu hòa giải không thành, hai bên có thể giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân hoặc UBND cấp có thẩm quyền

Khi tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Theo quy định tại Điều 203 của Luật đất đai 2013, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau: “Nếu tranh chấp mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Nếu tranh chấp mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết sau đây: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền theo quy định; Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Nếu người có tranh chấp đất đai gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thì Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phân công đơn vị có chức năng tham mưu giải quyết. Đơn vị được phân công giải quyết tiến hành thu thập, nghiên cứu hồ sơ; tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp; trường hợp cần thiết trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định thành lập đoàn công tác để tiến hành thẩm tra, xác minh vụ việc tại địa phương; hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

Nếu khởi kiện, đương sự phải chuẩn bị hồ sơ như sau: Đơn khởi kiện theo mẫu; Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất; Biên bản hòa giải có chứng nhận của UBND xã và có chữ ký của các bên tranh chấp; Giấy tờ của người khởi kiện (Sổ hộ khẩu; chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước nhân dân; Các giấy tờ chứng minh khác).

Tùy theo yêu cầu khởi kiện của bên khởi kiện có thể phải chuẩn bị thêm: Văn bản đo đạc, xác minh về việc thửa đất bị lấn chiếm; Trích lục hồ sơ địa chính đối với thửa đất có tranh chấp…

Nơi nộp hồ sơ khởi kiện là Tòa án nhân dân cấp huyện có đất đang tranh chấp.


(0) Bình luận
Tin nổi bật
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
Mới nhất & Dành cho bạn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO