--Quảng cáo---

Làng nghề tái chế với chính sách trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất: Điều hướng làng nghề tái chế theo hướng bền vững

Môi trường - Mai Chi - 18:44 11/01/2022

(TN&MT) - Trong số 1.748 làng nghề được công nhận đang hoạt động tại Việt Nam, có một loại hình làng nghề phát triển nhanh trong thời gian gần đây, đó là các làng nghề tái chế phế thải. Những làng nghề này hàng năm “ngốn” hàng ngàn tấn sản phẩm thải bỏ để tái chế thành những sản phẩm mới. Tuy nhiên, hoạt động này cũng gây hệ lụy không nhỏ tới môi trường, rất cần sự quản lý, điều chỉnh theo khuôn khổ để phát triển bền vững hơn.

Làng nghề tái chế phát triển nhanh chóng

Làng nghề tái chế đóng vai trò quan trọng trong việc khép kín chu trình vòng đời một loại sản phẩm. Họ mua phế liệu từ đồng nát, bãi phế liệu hoặc từ các nguồn nhập khẩu và tái chế chúng thành nguyên liệu thô để sản xuất tiếp hoặc sản phẩm hoàn chỉnh rồi bán trở lại thị trường. Hình thức hoạt động trong làng nghề tái chế đa dạng từ cá nhân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp, có thể hoạt động có đăng ký hoặc không đăng ký.

Hiện làng nghề tái chế được phân chia thành 3 nhóm ngành tái chế cơ bản: tái chế giấy, tái chế kim loại, tái chế nhựa. Trong đó, tái chế giấy là một trong những nghề tiểu thủ công nghiệp được phát triển với quy mô lớn, tập trung chủ yếu ở Bắc Ninh. Nhóm làng tái chế kim loại tập trung đông các làng nghề tiểu thủ công nghiệp sản xuất sắt thép như làng Vân Chàng, làng Xuân Tiến (Nam Định), làng Đa Sỹ (Hà Nội), làng Đa Hội (Bắc Ninh), làng La Khê (Bình Định)… Cùng với sự phát triển làng nghề tái chế kim loại là sự phát triển của 80 làng nghề cơ khí nhỏ, tái sử dụng các sản phẩm tái chế sắt thép như Dục Tú (Đông Anh), làng Cầu Vực (Thừa Thiên - Huế)…

Công nghệ tái chế kim loại ở các làng này tập trung chủ yếu giải quyết lượng sắt thép, phế liệu, các đồ gia dụng, chi tiết máy bằng thép cũ hỏng, hay các vật dụng phế liệu từ kim loại… Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam từ các phế liệu này, hàng năm đã đưa ra thị trường tiêu thụ trong nước, đặc biệt là ở khu vực miền Bắc hàng trăm nghìn tấn sắt thép xây dựng, các sản phẩm mỹ nghệ, đồ dùng, dụng cụ gia dụng…

Nhóm làng tái chế nhựa tập trung nhiều ở miền Bắc như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai (Hưng Yên), Tràng Minh (Hải Phòng), Phú Xuyên (Hà Tây), Triều Khúc, Trung Văn (Hà Nội)… Bên cạnh các hộ gia đình sản xuất tái chế còn có các hộ gia tham gia thu gom, phân loại, vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm. Đó là, làng Phú Xuyên (Hà Nội), Tràng Minh (Kiến An, Hải Phòng), Trung Văn (Từ Liêm, Hà Nội) làng Tào Phú, Tề Lỗ (Vĩnh Phúc)… Nhựa nguyên liệu được thu gom từ nhiều địa phương thông qua mạng lưới thu gom phế liệu từ các tỉnh thành trong cả nước. Các chất thải này sau khi thu gom thường được phân loại thành các loại nhựa HDPE, PP, PS, PET…

Làng nghề tái chế đóng vai trò quan trọng trong việc khép kín chu trình vòng đời một loại sản phẩm.

Tái chế gây ô nhiễm môi trường

Đặc điểm cơ bản của các làng nghề tái chế tại Việt Nam là công nghệ sản xuất mang tính thủ công, nguyên vật liệu đầu vào hầu hết là phế liệu không được làm sạch, đa số các cơ sở sản xuất đều không có biện pháp kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải và bảo hộ lao động cần thiết. Do vậy, các làng nghề tái chế đã và đang gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng.

Gây ô nhiễm lớn nhất phải kể đến làng nghề tái chế kim loại. Quá trình tái chế, gia công, xử lý bề mặt, phun sơn, đánh bóng bề mặt sản phẩm, nung, sấy, tẩy trắng, khí thải lò rèn... làm phát sinh bụi và các khí thải như SO2, NO2, hơi axit và kiềm thường vượt quy chuẩn cho phép. Đơn cử như Làng nghề tái chế nhôm phế liệu Mẫn Xá (xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, tại Văn Môn, trung bình mỗi ngày phát sinh khoảng 30 - 40 tấn chất thải rắn, gồm bã thải xỉ nhôm, xỉ than từ quá trình cô đúc kim loại, chưa được thu gom triệt để. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí cũng cho thấy, các chỉ tiêu phân tích (tiếng ồn, bụi, SO2, NO2) đều vượt quy chuẩn cho phép từ 1,2 - 1,8 lần. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt cho thấy, các chỉ tiêu phân tích (pH, BOD5, COD, SS, Fe, Cu, Ni, Pb, dầu mỡ) cao hơn chuẩn cho phép từ 1,5 - 16 lần…

Tái chế nhựa cũng gây ra nhiều hệ lụy cho môi trường. Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng các loại nhựa trong đời sống và nhu cầu sử dụng nhựa phế liệu trong sản xuất là tương đối cao, đặc biệt là trong bối cảnh nguồn nhựa phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài về Việt Nam bị hạn chế. Một số làng nghề tái chế như làng nghề Minh Khai và Phan Bôi ở Hưng Yên, làng nghề Triều Khúc ở Hà Nội… đã sử dụng nguyên liệu từ dòng thải để sản xuất ra các sản phẩm nhựa tái chế mới. Các công đoạn như làm sạch, xay tạo hạt… đều trực tiếp xả thải ra nguồn nước, gây ô nhiễm hóa chất và ô nhiễm vi nhựa trầm trọng. Thậm chí, nhiều rác thải khó tái chế còn được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn lấp bừa bãi.

Theo quy định, các làng nghề không tự đầu tư, áp dụng biện pháp xử lý chất thải đạt quy chuẩn quốc gia về môi trường phải di dời vào khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, số làng nghề được quy hoạch trong cụm làng nghề là rất ít (47 làng nghề), hoạt động xử lý chất thải tại các làng nghề còn bỏ ngỏ. Những tồn tại trên đang đặt môi trường làng nghề trước thách thức lớn, cần được quan tâm giải quyết.

Cần thay đổi để tham gia EPR

Các chuyên gia thuộc Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường (ISPONRE) cho biết, nhiều hộ gia đình thuộc làng nghề tái chế hiện nay hoạt động mạnh mẽ nhờ phần lãi thực chất do không phải chịu áp đặt những quy chuẩn liên quan đến đảm bảo an toàn cho môi trường. Một lượng lớn túi ni lông được sản xuất tại các tái chế nhựa được bán ra thị trường nhưng không phải đóng thuế bảo vệ môi trường. Để các làng nghề tái chế theo hướng bền vững hơn cần thu hút họ tham gia vào quá trình thực thi EPR, khi đó, hiệu quả của mô hình này sẽ tăng lên rất nhiều.

Vấn đề đặt ra hiện nay là khi thực EPR, trách nhiệm nhà sản xuất được mở rộng đến giai đoạn sau tiêu dùng tính theo vòng đời sản phẩm. EPR yêu cầu nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm thu gom, phân loại và tái chế, xử lý các sản phẩm bao bì được họ đưa ra thị trường đã qua sử dụng. Việc áp dụng EPR ở Việt Nam sẽ tác động mạnh lên sinh kế của những người sống trong các làng nghề. Nếu không muốn dần dần bị loại bỏ, những làng nghề phải lựa chọn hoặc thành lập doanh nghiệp, hoặc chuyển sang chỉ thu gom, phân loại và bán lại cho doanh nghiệp tái chế. Hoặc đầu tư đầu tư bài bản về hệ thống xử lý ô nhiễm, máy móc, trang thiết bị và đầu ra đạt chuẩn.

Để làm được điều này, Nhà nước cần đưa ra những biện pháp nhằm khuyến khích, tài trợ người dân ở các làng nghề ứng dụng công nghệ xử lý nước thải, công nghệ tái chế đạt chuẩn chất lượng, bên cạnh việc tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân. Các doanh nghiệp sản xuất cần hợp tác chặt chẽ với làng nghề tái chế trong việc cung ứng đầu vào tái chế. Để đầu vào đạt tiêu chuẩn, doanh nghiệp có thể giúp đỡ người dân về công nghệ, tài chính trong giai đoạn ban đầu…

EPR là chính sách môi trường tuân theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. EPR yêu cầu các nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về tác động tới môi trường mà sản phẩm của họ sẽ gây ra trong suốt chuỗi cung ứng, từ giai đoạn thiết kế đến thải bỏ. Với cách tiếp cận này, EPR được chứng minh là có hiệu quả trong việc chia sẻ gánh nặng tài chính hoặc một phần trách nhiệm quản lý chất thải rắn từ chính quyền địa phương và người nộp thuế nói chung sang cho nhà sản xuất. Thúc đẩy cải tiến sản phẩm theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, giảm sử dụng các dạng nguyên liệu độc hại, khó tái chế… Giúp tiết kiệm tài nguyên thông qua giảm chất thải, tăng tái chế. Tạo ra các cơ hội kinh tế trong suốt các giai đoạn khác nhau của vòng đời sản phẩm.

Bà Nguyễn Hoàng Phượng - Chuyên gia tư vấn Chính sách - Pháp luật:

Hoạt động tái chế hiện nay, nhất là tại các làng nghề đang có nhiều hạn chế, trong đó phải kể đến những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe của người dân xung quanh. Những tồn tại này chỉ có thể được giải quyết khi chúng ta xây dựng và thực thi nghiêm túc, hiệu quả các quy định EPR. Và, EPR muốn vận hành, phải giải quyết được khối phi chính thức mà chủ yếu là nhóm thu gom, nhóm phân tách (bãi phế liệu) và nhóm tái chế (làng nghề).
Các làng nghề tái chế đang gây ô nhiễm môi trường do nước thải, khí thải không đạt tiêu chuẩn. Do vậy, khi EPR hình thành, rác tái chế sẽ được đưa về các cơ sở tái chế đủ điều kiện. Đây có thể coi là “bàn tay của thị trường” để điều chỉnh vấn đề ô nhiễm của các cơ sở tái chế không đủ điều kiện sang đủ điều kiện, thúc đẩy ngành công nghiệp môi trường Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp. Có EPR, sẽ thêm dòng tiền từ nhà sản xuất để tái chế; các bên đều được hưởng lợi, tạo việc làm cho xã hội.

Ông Fausto Tazzi - Phó Chủ tịch Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam):

Các làng nghề có thể cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động tái chế của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này có thể gây ra hiện tượng “phân luồng rác thải”, tức là những rác thải “sạch”, chất lượng tái chế cao được doanh nghiệp tiếp nhận, còn rác thải “bẩn”, kém chất lượng lại tiếp tục trôi nổi, đe dọa đến môi trường. Hoạt động của các làng nghề tái chế là xử rác thải nhưng thực tế lại đang gây hại cho môi trường, trong khi đó EPR hướng tới mục đích giảm thiểu rác thải để bảo vệ môi trường. Vì vậy, khi triển khai EPR chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn.
Hiện nay, làng nghề tái chế chỉ phát huy vai trò của mình trong khâu thu gom và có thể là xử lý ban đầu. Các hoạt động xử lý sâu và tái sản xuất cần được thực hiện bởi doanh nghiệp có công nghệ, nguồn lực cũng như kinh nghiệm hoạt động. Tuy nhiên, vai trò của các làng nghề truyền thống có thể giúp tinh giảm đi nhiều chi phí thực thi EPR. Nếu ứng dụng EPR tạo ra lợi nhuận, mô hình này sẽ tự vận hành theo cơ chế thị trường, giảm gánh nặng ngân sách cũng như nhân lực quản lý và giám sát thực hiện.

(0) Bình luận
Tin nổi bật
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
Mới nhất & Dành cho bạn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO