--Quảng cáo---

Nông Cống (Thanh Hóa): Người dân “bỗng dưng” mất đất

Tiếng dân - 12:09 14/03/2019

(TN&MT) - Sau hơn 10 năm trở về quê hương, bà Nguyễn Thị Thi, sống ở thôn Bình Minh, xã Minh Nghĩa (huyện Nông Cống, Thanh Hóa) tá hỏa khi biết mảnh đất có diện tích 300m² do mình đứng tên bỗng chốc bị “bốc hơi” 135m². Với hy vọng, lấy lại diện tích đất thuộc về mình, bà Thi đã làm đơn gửi nhiều cơ quan chức năng, nhưng thật trớ trêu điều bà nhận được là những câu trả lời không thỏa đáng.

Cấp sổ đỏ cho…người đã chết?

Theo đơn cầu cứu của bà Nguyễn Thị Thi, thôn Bình Minh, xã Minh Nghĩa (huyện Nông Cống, Thanh Hóa): Năm 1981, bà Nguyễn Thị Thi kết hôn với ông Đỗ Ngọc Hơn, nhờ chăm chỉ làm ăn nên vợ chồng mua được mảnh đất có diện tích 3.862 m², trong đó có 200 m² đất ở, 100 m² đất vườn, thuộc thửa số 415, tờ bản đồ 04 (bản đồ địa chính 299) tại thôn Bình Minh, xã Minh Nghĩa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên Phạm Thị Thi (cơ quan quản lý đất đai xác nhận ghi sai họ của tôi) được cấp ngày 30/04/1994. Đến năm 2000, do hoàn cảnh khó khăn, chồng bà ốm liên miên nên tôi đi làm ăn xa. Năm 2011, bà trở về quê hương, thì chồng đã mất năm 2003 và mảnh đất 383 m² do bà đứng tên đã chuyển sang tên chồng bà vào năm 2005.

Năm 2011, bà Thi về quê hương tá hỏa khi phát hiện diện tích đất ở mang tên mình chỉ còn lại hơn 100 m².
Năm 2011, bà Thi về quê hương tá hỏa khi phát hiện diện tích đất ở mang tên mình chỉ còn lại hơn 100 m².

“Không hiểu lý do vì sao UBND xã Minh Nghĩa lại làm thủ tục hồ sơ và UBND huyện Nông Cống lại tự ý chuyển tên sử dụng đất từ tên tôi sang chồng tôi là ông Đỗ Ngọc Hơn vào năm 2005 trong khi đó chồng tôi mất năm 2003 và không có sự có mặt của tôi lúc đó, điều này thật vô lý?”, bà Thi bức xúc, phân trần.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Thi , thuộc thửa số 415, tờ bản đồ 04 (bản đồ địa chính 299) được UBND huyện Nông Cống cấp ngày 30/04/1994.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Thi , thuộc thửa số 415, tờ bản đồ 04 (bản đồ địa chính 299) được UBND huyện Nông Cống cấp ngày 30/04/1994.

Theo tìm hiểu của PV, thời điểm chuyển 383 m² của bà Phạm Thị Thi sang ông Đỗ Ngọc Hơn thì hai người vẫn là vợ chồng, không có giấy ly hôn từ cơ quan có thẩm quyền, không có Giấy thông báo bà Nguyễn Thị Thi mất tích của Tòa án. Cùng với đó là việc ông Hơn mất năm 2003, nhưng đến 2005 UBND huyện Nông Cống mới cấp GCNQSDĐ 383 m² cho ông Đỗ Ngọc Hơn. Vậy căn cứ vào đâu mà UBND xã Minh Nghĩa, UBND huyện Nông Cống bằng cách nào lại “phù phép” cho ông Đỗ Ngọc Hơn đứng tên 383 m² nằm trong diện tích 3.862 do bà Nguyễn Thị Thi đứng tên?

Khuất tất trong việc chuyển nhượng đất?

Sau một hồi trấn tĩnh, bà Thi, nói tiếp: Từ việc 383 m² đất chuyển sang cho chồng tôi bất hợp pháp, công cuộc chia chác và bán đất bắt đầu. Đầu tiên chồng tôi bán cho ông Đỗ Văn Hoa 85 m², sau đó bà Nguyễn Thị Hoe (mẹ đẻ của chồng tôi) được thừa kế 50m², cháu Đỗ Ngọc Phương (con ngoài giá thú của chồng tôi) được thừa hưởng 50m². Tại thời điểm đó cho đến nay tôi và chồng tôi chưa ly hôn, có chăng tài sản là của chung, nếu có việc mua bán hay nhượng lại thì phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng hoặc phải có sự ủy quyền của tôi. Vậy mà UBND xã Minh Nghĩa, UBND huyện Nông Cống lại đồng ý chuyển số diện tích trên cho họ. Tôi đã làm đơn trình bày rõ sự việc gửi UBND huyện Nông Cống, Tòa án nhân dân…nhưng không nhận được câu trả lời thỏa đáng.

Mảnh đất mà UBND xã Minh Nghĩa, UBND huyện Nông Cống “tạo điều kiện” để ông Hơn chuyển nhượng tổng 185 m² đất cho ông Hoa, bà Hòe và cháu Phương.
Mảnh đất mà UBND xã Minh Nghĩa, UBND huyện Nông Cống “tạo điều kiện” để ông Hơn chuyển nhượng tổng 185 m² đất cho ông Hoa, bà Hòe và cháu Phương.

Năm 2005, ông Đỗ Ngọc Hơn chuyển nhượng 85 m² cho ông Đỗ Văn Hoa, 50 m² được thừa kế cho bà Nguyễn Thị Hoe, 50 m² cháu Đỗ Ngọc Phương thừa hưởng. Căn cứ theo quy định pháp luật tại thời điểm đó thì:

Tại khoản 1, điều 28 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định:  Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”, có nghĩa là tài sản chung của vợ chồng nếu như có bán, đổi, vay, mượn, và thực hiện những giao dịch khác thì phải được sự thỏa thuận, đồng ý của cả vợ và chồng.

Tại điều 233 – Bộ luật dân sự năm 1995, quy định 4 khoản: Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất; Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo Quyết định của Tòa án.

Việc chuyển 383 m² nằm trong GCNQSDĐ của bà Nguyễn Thị Thi sang ông Đỗ Ngọc Hơn khi không có sự thỏa thuận của vợ chồng là sai quy định của pháp luật.
Việc chuyển 383 m² nằm trong GCNQSDĐ của bà Nguyễn Thị Thi sang ông Đỗ Ngọc Hơn khi không có sự thỏa thuận của vợ chồng là sai quy định của pháp luật.

Tại khoản 1, điều 676 - Bộ luật dân sự năm 2005, quy định: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết...

Vậy căn cứ vào ba điều luật trên, cho thấy việc UBND xã Minh Nghĩa, UBND huyện Nông Cống đã “tạo điều kiện” để ông Đỗ Ngọc Hơn đứng tên 383 trong diện tích đất của bà Nguyễn Thị Thi rồi từ đó chuyển nhượng tổng 185 m² cho ông Đỗ Văn Hoa, bà Nguyễn Thị Hòe và cháu Đỗ Ngọc Phương là không có cơ sở về mặt pháp lý. Phải chăng phía chính quyền sở tại thời điểm đó thiếu sự hiểu biết về pháp luật hay “làm bừa” trong thủ tục cấp GCNQSDĐ tại địa phương?.

Trao đổi với PV, ông Lường Khắc Nam – Chủ tịch UBND xã Minh Nghĩa, cho biết: Sự việc của bà Thi đã xảy ra nhiều năm nay, lúc tách diện tích đất từ tên bà Thi sang ông Hơn là không có sự có mặt của bà Thi và giữa hai người vẫn chưa ly hôn. Tuy có những cái sai, nhưng tại thời điểm đó, do ông Hơn ốm nặng nên người trong gia đình ông Hơn đi tới thống nhất bán đất để chữa trị bệnh cho ông Hơn. Sau khi nắm bắt được sự việc phía UBND xã Minh Nghĩa đã hướng dẫn cho bà Thi làm hồ sơ gửi Tòa án để giải quyết.

Khi PV đề nghị tiếp cận hồ sơ về việc chuyển nhượng đất từ bà Thi sang ông Hơn và hồ sơ chuyển nhượng 2 thửa đất thuộc tài sản chung của vợ chồng bà Thi thì ông Nam lại hẹn dịp khác sẽ cung cung cấp đầy đủ.

Rõ ràng, việc thực hiện chuyển nhượng GCNQSDĐ cho ông Đỗ Ngọc Hơn nếu không có sự đồng ý của bà Nguyễn Thị Thi là bất hợp pháp, và việc ông Hơn tự quyết định bán và chuyển nhượng 185 m² (thuộc tài sản chung) cho ba trường hợp là không có cơ sở pháp lý. Đề nghị, UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở TN&MT và các ngành chức năng sớm vào cuộc làm rõ sự việc, trả lại sự công bằng cho người dân.


(0) Bình luận
Tin nổi bật
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
--Quảng cáo---
Mới nhất & Dành cho bạn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO