Môi trường

Cần chú trọng đầu tư để nâng cao năng lực cảnh báo lũ quét, sạt lở đất

Mai Đan (thực hiện) 30/09/2023 13:56

(TN&MT) - Thực tế lũ quét, sạt lở đất đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản trong nhiều năm qua, đặc biệt là thời gian gần đây. Để có cái nhìn tổng quan về công tác cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, cũng như những giải pháp của ngành KTTV nhằm nâng cao năng lực cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS. Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia.

PV: Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về công tác cảnh báo lũ quét, sạt lở đất thời gian qua ở nước ta?

PGS.TS. Mai Văn Khiêm: Lũ quét, sạt lở đất là hiện tượng thiên tai thường xuất hiện trong thời gian ngắn với diễn biến nhanh, cục bộ trong khu vực hẹp và có sức tàn phá lớn. Việt Nam là đất nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của nhiều đợt mưa lớn trong thời kỳ mùa mưa (mưa lớn kéo dài nhiều ngày, mưa lớn trong thời gian ngắn), địa hình chia cắt, mật độ sông suối phong phú làm tăng khả năng xảy ra lũ quét và sạt lở đất. Ngoài những nguyên nhân trên, còn có sự tác động của con người, làm hủy hoại môi trường tự nhiên do khai thác mỏ, phá rừng, hay xây dựng không hợp lý…

Trong những năm qua do tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng với những yếu tố hết sức cực đoan, bất thường, khó dự báo, cảnh báo gây thiệt hại lớn về người, tài sản, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội, nhất là lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại khu vực các tỉnh miền núi.

img_0940-1-.jpg
PGS.TS. Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Quốc gia

Ví dụ như đợt mưa lũ tháng 10 năm 2020 đã xảy ra nhiều trận lũ quét, sạt lở đất tại Nhà máy thuỷ điện Rào Trăng 3, trạm Kiểm lâm số 67 ở huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế); huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; xã Trà Leng, Trà Vân, huyện Nam Trà My và xã Phước Lộc, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, đã cướp đi sinh mạng của hàng chục người dân, cán bộ, chiến sỹ và phá hủy nghiêm trọng nhiều cơ sở hạ tầng… Và trong mùa mưa lũ năm 2023 gần đây cũng đã xảy ra những trận lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên.

PV: Thưa ông, đâu là những khó khăn trong công tác cảnh báo lũ quét, sạt lở đất?

PGS.TS. Mai Văn Khiêm: Lũ quét và sạt lở đất là những loại hình thiên tai đặc biệt nguy hiểm, thường xảy ra trong phạm vi nhỏ, thời gian xảy ra ngắn nên rất khó dự báo, cảnh báo. Cảnh báo lũ quét, sạt lở đất ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa trên thống kê, các bản đồ về địa hình, độ dốc, thảm phủ, phân vùng nguy cơ lũ quét và sạt lở đất, kết hợp dự báo mưa từ các mô hình số, dữ liệu mưa từ ảnh vệ tinh, viễn thám; thời gian cảnh báo lũ quét, sạt lở đất trước từ 3- 6 giờ.

Trước năm 2023, các sản phẩm cảnh báo lũ quét của Hoa Kỳ thông qua dự án của Ủy ban sông Mê Công. Cho đến năm 2022, Việt Nam đã tiếp nhận Hệ thống hỗ trợ cảnh báo lũ quét Đông Nam Á (SEAFFGS). Đây là hệ thống hỗ trợ cảnh báo lũ quét đầu tiên sử dụng dữ liệu dự báo cực ngắn và được tích hợp một lượng lớn nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. Các dữ liệu của Việt Nam đã được tích hợp vào hệ thống gồm số liệu ước lượng mưa từ 10 ra đa, và hơn 1500 trạm mưa tự động, sản phẩm Nowcasting dự báo mưa, sản phẩm dự báo mưa số trị từ mô hình WRF đã được ứng dụng như một công cụ hỗ trợ cảnh báo.

Tuy nhiên, SEAFFGS chưa thể hỗ trợ dự báo được vị trí cụ thể xảy ra lũ quét, sạt lở đất, chỉ có thể hỗ trợ các dự báo viên phân tích, cảnh báo các ngưỡng mưa sinh lũ quét đối với mỗi tiểu lưu vực trong 1 giờ, 3 giờ, 6 giờ và được cập nhật thường xuyên theo các khoảng thời gian tương ứng; vùng nguy cơ sạt lở đất trong 24 giờ tiếp theo với tần suất cập nhật 6 giờ/lần,…

PV: Ngành KTTV đã khắc phục những khó khăn trên như thế nào, xin ông chia sẻ?

PGS.TS. Mai Văn Khiêm: Năm 2023, Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia triển khai đồng bộ một số giải pháp khác nhau nhằm tăng cường mức độ chi tiết các bản tin cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, trong đó trọng tâm là ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại, xác định ngưỡng mưa chi tiết hơn. Ngoài ra, đã tăng cường độ phân giải dự báo mưa định lượng lên 1-3 km, sử dụng đồng hóa nhiều nguồn dữ liệu tạo bản đồ mưa như dữ liệu quan trắc, radar, mô hình số nhằm xác định khu vực xuất hiện các tâm mưa lớn phục vụ cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.

1(2).jpg
Nghệ An chủ động ứng phó với mưa lớn, nguy cơ ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất

Bản đồ cảnh báo nguy cơ lũ quét được xử lý kết hợp các lớp thông tin về nguy cơ lũ quét, sạt lở đất, các ngưỡng mưa và đặc biệt là các thông tin về dân sinh, kinh tế,… đã được bổ sung để tạo ra bản đồ cảnh báo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất hỗ trợ công tác dự báo.

Hiện tại, Hệ thống thông tin cảnh báo lũ quét và sạt lở đất thời gian thực đang được đưa vào dự báo nghiệp vụ, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng cảnh báo. Trang web tham khảo được cung cấp trực tuyến tại địa chỉ: http://luquetsatlo.nchmf.gov.vn.

PV: Trong thời gian tới, ngành KTTV sẽ thực hiện các giải pháp gì để nâng cao năng lực cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, thưa ông?

PGS.TS. Mai Văn Khiêm: Như đã chia sẻ ở trên, cho đến nay, việc dự báo, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất vẫn còn nhiều khó khăn và là thách thức đối với ngành KTTV. Các bản tin hiện nay chưa dự báo được chính xác, chi tiết về thời gian, địa điểm, cường độ, phạm vi xuất hiện lũ quét, sạt lở đất mà mới dừng ở mức cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất theo huyện hoặc xã, vùng.

Tuy nhiên, do tích chất khốc liệt và những thiệt hại to lớn do loại hình thiên tai này gây ra, việc cảnh báo các loại thiên tai KTTV nguy hiểm này vẫn rất cần được chú trọng, đầu tư nhằm nâng cao khả năng cảnh báo giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Công tác phòng tránh các loại thiên tai chưa thể dự báo, cảnh báo chính xác được như lũ quét, sạt lở đất,… tập trung theo hướng lấy phòng ngừa là chính. Đầu tư trong giai đoạn phòng ngừa sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với giai đoạn ứng phó, khắc phục hậu quả.

Các giải pháp cụ thể cần thực hiện gồm: Tăng cường năng lực truyền tin dự báo, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất và công tác tuyên truyền về công tác KTTV, trao đổi các thông tin giữa các đơn vị dự báo KTTV và các Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai tại địa phương đến người dân nhằm nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai như bão, lũ, lũ quét của các cấp chính quyền (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) và nhân dân.

Đồng thời, tăng cường mật độ mạng lưới trạm đo mưa tự động và cần đặt các trạm này ở đầu nguồn các sông suối nhỏ, nơi có nguy cơ sinh ra lũ quét, lũ ống và phải đảm bảo số liệu mưa tự động được truyền thường xuyên, liên tục và kịp thời tới cơ quan làm dự báo ở địa phương cũng như ở trung ương.

Bên cạnh đó, thiết lập các hệ thống tự động cảnh báo lũ quét, sạt lở đất ở các vùng có nguy cơ cao, kết hợp với nâng cao ý thức, tập huấn cho cộng đồng dân cư khu vực có nguy cơ cao.

Hơn nữa, đồng bộ hóa việc thu nhận, xử lý, lưu trữ và truyền tin các loại số liệu đo đạc tự động (mưa, mực nước, các yếu tố khí tượng, thủy văn khác) với số liệu vệ tinh, rada thời tiết; đặc biệt chú trọng vào việc ứng dụng ước lượng mưa lớn từ radar, vệ tinh phân giải cao, mạng lưới quan trắc mưa tự động để cảnh báo chi tiết mưa lớn, lũ quét và sạt lở đát đến từng khu vực nhỏ, huyện, xã, vùng trọng điểm có nguy cơ cao.

z4522240549305_dd73c1fe2adcc3eb5888385d4fecce8f.jpg
Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia tăng cường năng lực truyền tin dự báo, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất

Cùng với đó, đầu tư các công nghệ hiện đại, tự động cho phép tích hợp các số liệu mưa tự động, rada, vệ tinh cùng với sự đầu tư đồng bộ các thiết bị đo đạc tự động, viễn thám theo công nghệ mới hướng tới bài toán dự báo định lượng mưa lớn, ứng dụng các công nghệ, mô hình toán hiện đại cảnh báo lũ quét, sạt lở đất thời gian thực.

Thêm vào đó, triển khai cảnh báo tức thời các vị trí mưa lớn, có nguy cơ đặc biệt cao xuất hiện lũ quét, sạt lở đất trên cơ sở giám sát mưa tự động, ảnh rada thời tiết, ảnh vệ tinh cực phân giải cao,..

Ngoài ra, phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai các địa phương rà soát, thu thập, cung cấp thông tin về các khu vực, công trình trọng điểm, xung yếu trên địa bàn thuộc trách nhiệm quản lý có nguy cơ rủi ro thiên tai cao trong năm 2023 và các năm tiếp theo, đặc biệt ảnh hưởng đến dân cư, cơ sở hạ tầng quan trọng; kiểm tra, rà soát, bổ sung phương án ứng phó thiên tai cực đoan, nâng cao năng lực xử lý tình huống, sự cố thiên tai, nhất là thiên tai cực đoan.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Mai Đan (thực hiện)