Biển đảo

Nam Định ban hành Kế hoạch bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030

Thuỵ Khanh 11/05/2023 - 16:25

(TN&MT) - UBND tỉnh Nam Định đã ban hành Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 8/5/2023 về việc thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 3/4/2023 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050.

Để thực hiện mục tiêu Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, UBND tỉnh Nam Định đã đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và yêu cầu các cấp, Sở, ban, ngành, các địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, lĩnh vực được giao, tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 3/4/2023 của Chính phủ và Kế hoạch của UBND tỉnh, bao gồm khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững, xác định tài nguyên, môi trường biển để phát triển kinh tế của tỉnh cùng việc bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Phát triển kinh tế biển xanh; Tổ chức tham gia các hoạt động khu vực ven biển, trên biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên giới biển của tỉnh.

1-87.jpeg
Nam Định ban hành Chiến lược bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030

Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp chính quyền trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-CP. Phân vùng sử dụng không gian biển, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển; Ưu tiên bố trí không gian biển cho các hoạt động phát triển ngành thuỷ sản toàn diện trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến; Đẩy mạnh đầu tư mới hạ tầng các khu, cụm công nghiệp theo quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư thứ cấp phục vụ phát triển công nghiệp, hoàn thành hạ tầng và sớm lấp đầy Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông, Cụm công nghiệp Thịnh Lâm - Giao Thủy, Cụm công nghiệp làng nghề Hải Vân - Hải Hậu. Hoàn thành đề án thành lập Khu kinh tế Ninh Cơ.

Cần phát triển nhanh, đa dạng các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch. Chú trọng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm cộng đồng gắn với phát triển du lịch các địa điểm: Vườn quốc gia Xuân Thủy, các khu du lịch Quất Lâm, Thịnh Long, Rạng Đông, khu bảo tồn chứng tích biến đổi khí hậu Nhà thờ đổ Văn Lý, các mô hình điểm trong xây dựng nông thôn mới,…

Hình thành các tuyến du lịch biển gắn với du lịch văn hóa, tâm linh và tuyến du lịch liên tỉnh; Khai thác tốt các tuyến vận tải đường thủy, đẩy mạnh phát triển hệ thống cảng, dịch vụ vận tải biển, từng bước hình thành các chuỗi cung ứng vận tải biển, tổng kho phân phối, hoàn thiện hạ tầng Logistics kết nối liên thông với các cảng biển lớn của khu vực. Xây dựng lộ trình mở rộng, nâng cấp cảng để có khả năng tiếp nhận các tàu trọng tải lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển dịch vụ vận tải biển; Nghiên cứu xây dựng cảng biển chuyên dùng phục vụ cho phát triển Khu kinh tế Ninh Cơ, Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông...

Đối với công tác bảo vệ môi trường biển, công tác điều tra, thống kê, phân loại, quan trắc và đánh giá các loại hình ô nhiễm, tình trạng ô nhiễm, nguồn ô nhiễm môi trường biển cần được thực hiện định kỳ, nhằm tăng cường năng lực và chủ động kiểm soát, giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vấn đề môi trường biển của tỉnh; Tăng cường năng lực hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên môi trường biển và ưu tiên nguồn lực từ nguồn kinh phí bảo vệ môi trường để triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến 2030, theo mục tiêu tỷ lệ thu hồi, xử lý rác thải nhựa tại các bãi biển, khu du lịch biển và khu bảo tồn biển đạt 100%.

khu-cong-nghiep-rang-dong-1.jpeg
Nghiên cứu xây dựng cảng biển chuyên dùng phục vụ cho phát triển Khu kinh tế Ninh Cơ, Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông...

Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Xuân Thủy và vùng đệm. Đến năm 2030, duy trì diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 8-9% diện tích vùng ven biển; diện tích rừng ngập mặn ven biển được phục hồi tối thiểu bằng mức năm 2000. Đẩy mạnh điều tra, đánh giá và xác định mức độ dễ bị tổn thương, tính nguy cấp của các loài sinh vật biển đặc hữu, có giá trị khoa học và kinh tế để đưa ra các phương án, giải pháp bảo vệ, bảo tồn và phục hồi.

Thiết lập, mở rộng và nâng cao năng lực quản lý các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các loài thủy sản. Đến năm 2030, 100% các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản được xác định và quản lý hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, gây nuôi và buôn bán xuyên biên giới các loài sinh vật biển hoang dã thuộc danh mục cần được bảo tồn nhằm ngăn ngừa, kiểm soát chặt chẽ và phòng trừ có hiệu quả các loài sinh vật ngoại lai xâm hại, sự du nhập các giống, loài thủy sản ngoại lai và sự du nhập sinh vật ngoại lai qua hoạt động vận tải biển.

Đặc biệt, về công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cần triển khai gấp rút các giải pháp ứng phó, dựa vào hệ sinh thái và các giải pháp dựa vào tự nhiên thông qua việc bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển và ven biển, nhằm giảm thiểu thiệt hại do nước biển dâng, xâm nhập mặn, lũ lụt, hạn hán và các tác động liên quan khác đối với vùng biển và ven biển.

Nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi của hệ thống tự nhiên và xã hội vùng biển và ven biển trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu; phát triển mô hình cộng đồng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; giám sát tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành kinh tế biển và đời sống, sinh kế cộng đồng trên vùng biển và ven biển; Chủ động chuẩn bị các phương án, điều kiện phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển phù hợp với từng ngành kinh tế biển, các vùng biển và ven biển.

Theo đó, cần rà soát, đổi mới công nghệ cũng như các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển theo hướng giảm thiểu phát thải khí nhà kính theo cam kết của Việt Nam tại COP 26 về đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Đồng thời tuyên truyền, nâng cao nhận thức về biển, khai thác sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển cho người dân thông qua các chiến dịch tuyên truyền cao điểm bao gồm Ngày Môi trường thế giới (05/6), Ngày Đại dương thế giới (08/6), Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam (01 - 08/6); Kết hợp xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển, xây dựng cơ chế tài chính bền vững phục vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển; đẩy mạnh điều tra cơ bản, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và thúc đẩy giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển…

Thuỵ Khanh