Thông qua trữ lượng khoáng sản tại 4 địa phương

Tài nguyên - Ngày đăng : 12:12, 09/12/2022

(TN&MT) - Sáng 9/12, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên chủ trì cuộc họp Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia đối với 4 mỏ khoáng sản ở Bắc Giang, Hà Nam, Nghệ An và Bình Định.
img_4763.jpg
Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên chủ trì cuộc họp

Báo cáo kết quả thăm dò than khu vực Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, ông Bùi Viết Sáng thuộc Liên đoàn INTERGEO (Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam), đơn vị tư vấn cho biết: Liên đoàn đã làm sáng tỏ cấu trúc địa chất, đánh giá được trữ lượng và chất lượng các vỉa than có giá trị công nghiệp trong diện tích cấp phép thăm dò. Đặc biệt, đã có lỗ khoan sâu nghiên cứu đánh giá tiềm năng các vỉa than đến mức dưới -650m trong khu vực thăm dò.

Ngoài ra, công tác địa chất thủy văn - địa chất công trình đã đánh giá được tổng lượng nước chảy vào mỏ và xác định được tính chất cơ lý của đất đá góp phần phục vụ cho giai đoạn khai thác.

Đơn vị tư vấn cũng đá đánh giá sơ bộ độ chứa khí trong than và ảnh hưởng của các chất khí tới quá trình khai thác; đánh giá được chất lượng của than trong khu vực thăm dò và tham khảo công nghệ sàng tuyển tối ưu phục vụ quá trình khai thác, tuyển than.

Tuy vậy, theo một số ủy viên Hội đồng, trong quá trình khai thác, Công ty Cổ phần Khoa học sản xuất mỏ Bắc Giang (chủ đầu tư) cần thiết phải đan dày, bổ sung thêm các công trình thăm dò phục vụ khai thác. Cụ thể, đan dày thêm mạng lưới khoan ở phạm vi diện tích vỉa có chiều dày vỉa không ổn định, ở những nơi công trình thăm dò còn thưa. Đồng thời, tài nguyên cấp 333 (tài nguyên dự tính) còn lại ở các vỉa than là đáng kể, công ty cần có kế hoạch thăm dò nâng cấp.

Ông Nguyễn Xuân Toán - Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia cho rằng, báo cáo kết quả thăm dò than khu vực Thanh Sơn đã tổng hợp được tài liệu thu thập trong quá trình thăm dò, đánh giá chất lượng và tính được trữ lượng, tài nguyên than trong diện tích thăm dò. Trữ lượng sau thăm dò đạt mục tiêu đề án đặt ra. Trữ lượng than đã tính trong báo cáo đạt được độ tin cậy của cấp trữ lượng 122 (phần thân quặng đã được nghiên cứu rõ về địa chất, chất lượng và công nghệ khai thác, có tính khả thi và hiệu quả kinh tế khi khai thác theo đúng yêu cầu của loại mỏ).

Trên cơ sở đó, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Quý Kiên và các ủy viên Hội đồng đã thông qua tổng trữ lượng và tài nguyên than là 23,823 triệu tấn, trong đó, trữ lượng cấp 122 là 20,838 triệu tấn và tài nguyên cấp 333 là 2,985 triệu tấn.

img_4759(1).jpg
Quang cảnh cuộc họp

Hội đồng cũng đánh giá và thông qua tổng trữ lượng 4,327 triệu tấn đá sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng ở trạng thái tự nhiên, 2,171 triệu tấn cát bột kết phong hóa (đá lớp kẹp) có thể sử dụng làm phụ gia xi măng ở trạng thái tự nhiên tại khu vực T51, T52 Núi Nghè, thị trấn Tân Thanh, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Đối với kết quả thăm dò nâng cấp trữ lượng các khối tài nguyên cấp 333 trong phạm vi giấy phép khai thác khoáng sản số 1306/QĐ-ĐCKS ngày 1/7/1998 của Bộ Công nghiệp, mỏ sét làm nguyên liệu xi măng tại xã Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An của Công ty Cổ phần Xi măng VICEM Hoàng Mai, do Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Khoáng sản Việt tư vấn, Hội đồng đã thông qua tổng trữ lượng 5,466 triệu tấn đá sét làm nguyên liệu xi măng cấp 121 và 122 ở trạng thái tự nhiên.  

Về kết quả tổng hợp tài liệu, tính trữ lượng đá granit tảng lăn làm ốp lát còn lại trong phạm vi giấy phép khai thác khoáng sản số 438/GP-BTNMT ngày 14/4/2003 của Bộ TN&MT tại mỏ Núi Dung xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, Bình Định, Hội đồng thông qua tổng trữ lượng cấp 122, tài nguyên cấp 222 và tài nguyên cấp 333 đá granit tảng lăn làm ốp lát còn lại là 513.546 m3.

Mai Đan