Thanh Hóa: Xử lý các dự án, công trình sử dụng đất vi phạm

Đất đai - Ngày đăng : 10:40, 13/05/2022

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa vừa có Công Văn số 6429/UBND-NN về việc tăng cường công tác quản lý đất đai, xử lý các dự án, công trình sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai.

Thực hiện Công văn số 7352/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2021 và Công văn số 187/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 10/01/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc xử lý các dự án, công trình sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai, nhằm chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai, xử lý các dự án vi phạm pháp luật đất đai; các dự án không sử dụng đất hoặc chậm tiến độ đưa đất vào sử dụng, để hoang hóa gây lãng phí đất đai, gây bức xúc trong dư luận xã hội; đồng thời, giải quyết dứt điểm những trường hợp vướng mắc, đưa đất vào sử dụng, phát huy nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; ngày 13/01/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường có Báo cáo số 05/BC-STNMT về việc các dự án, công trình vi phạm pháp luật đất đai; các dự án, công trình không sử dụng đất hoặc chậm tiến độ đưa đất vào sử dụng; các dự án, công trình có kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kết luận của cơ quan kiểm tra Đảng.

Theo đó, tính đến tháng 11/2021 trên địa bàn tỉnh có 04 dự án, công trình vi phạm pháp luật đất đai với tổng diện tích đất 236,90 ha còn vướng mắc, chưa xử lý được; có 109 dự án, công trình với tổng diện tích đất 278,95 ha không sử dụng đất hoặc chậm tiến độ đưa đất vào sử dụng, để hoang hóa, gây lãng phí đất đai; có 02 dự án, công trình với tổng diện tích đất 36,26 ha có kết luận thanh tra, kiểm tra đến nay còn vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết để đưa đất vào sử dụng.

anh.jpg
Công trình vi phạm đất đai tại thành phố Thanh Hóa đang bị tháo dỡ

Chủ tịch UBND tỉnh giao các huyện, thị xã và Thành phố tiếp tục xử lý vi phạm đối với các trường hợp xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Công văn số 12233/UBND-NN ngày 12/8/2021; lập hồ sơ xử lý nghiêm theo thẩm quyền và theo quy định đối với các trường hợp tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, vi phạm hành lang đê điều, xây dựng sai mặt bằng quy hoạch…

Rà soát, báo cáo cụ thể danh sách các doanh nghiệp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chưa hoàn thành thủ tục đầu tư, xây dựng hoặc không đầu tư xây dựng các công trình của dự án, gửi về Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng để xây dựng kế hoạch và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật.

Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục tăng cường kiểm tra đối với các dự án sử dụng đất có vi phạm, xử lý, kiến nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật: Trong năm 2022 tiếp tục rà soát, xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư đối với các dự án có dấu hiệu vi phạm. Kiên quyết tham mưu trình U N   tỉnh thu hồi đất đối với các dự án có vi phạm, đủ điều kiện thu hồi theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai năm 2013.

Chấn chỉnh công tác giao đất, cho thuê đất, thực hiện kịp thời việc ký hợp đồng thuê đất, bàn giao đất trên thực địa, tham mưu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư thực hiện dự án. Đôn đốc, hướng dẫn, yêu cầu chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất và thuê đất theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Tham mưu tháo gỡ vướng mắc đối với các dự án chậm tiến độ nhưng được UBND tỉnh chấp thuận cho mở rộng, các dự án chưa được bàn giao đất trên thực địa; các trường hợp quy hoạch xây dựng điều chỉnh dẫn đến dự án không còn phù hợp. Trường hợp cần thiết báo cáo xin hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương. Hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh gia hạn tiến độ sử dụng đất đối với các dự án chậm tiến độ quá 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án theo quy định.

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế, các ngành liên quan xem xét tham mưu báo cáo UBND tỉnh quyết định cho gia hạn thêm thời gian sử dụng đất để đầu tư hoàn chỉnh dự án đối với các trường hợp bất khả kháng do chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

Xác định vi phạm pháp luật đất đai đối với tổ chức, phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh công khai các tổ chức trên Cổng thông tin điện tử theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; gỡ bỏ thông tin công khai vi phạm pháp luật đất đai đối với các trường hợp đủ điều kiện; cung cấp thông tin để công khai trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Quản lý đất đai.

Phối hợp với Sở Tư pháp và các ngành liên quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định về xác định dự án chậm tiến độ đầu tư, việc gia hạn tiến độ thực hiện dự án, thu hồi đất do chậm tiến độ quy định tại Điều 64 Luật Đất đai và các quy định về xác định khoản tiền phải nộp bổ sung đối với các dự án chậm tiến độ đầu tư; tham mưu đề xuất Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung đảm bảo tính khả thi, dễ hiểu, dễ thực hiện.

Tuyết Trang