Nhớ làng rừng

Văn hóa - Ngày đăng : 01:38, 05/02/2019

(TN&MT) - Đã hơn bốn mươi năm sau ngày đất nước thống nhất, năm nào cũng vậy, để thỏa mãn nỗi nhớ của mình, dù khó khăn đến mấy, tôi cũng cố tự tìm một vài cơ hội để về lại được với buôn làng Tây Nguyên. Ở nơi ấy, tôi có bạn bè, có bà con, anh em và có toàn bộ tuổi trẻ của mình.
Huy n o thi n ng m y tr ng, hoa b ng lau


Tôi tự nhận đó là quê hương thứ hai

Thói quen vui buồn của chúng tôi là lại nhớ về ngôi Làng Rừng thuở trai trẻ ấy. Nhớ phong tục, trước mùa thu hoạch, bà con phải làm lễ “Rước Mẹ Lúa” từ rẫy về kho. Nhớ những cối cốm, những mẹt cốm thơm cả cánh rừng. Nhớ đôi mắt lúc nào cũng lúng liếng của cô BYắt. Nhớ cái eo lưng vừa mềm vừa dẻo vừa cong của cô HNgươl. Nay về lại làng xưa, kể chuyện ở rừng, hồi ấy, chúng tôi bẫy một lúc được hàng trăm con cu xanh bằng cách lấy nhựa cây dính vào lá da, đàn chim sà xuống, cánh dính nhựa, rụng bồm bộp, vồ chim, bắt chim vang động cả một cánh rừng. Thời ấy, một đêm đội đèn đi bắn, không được nai cũng được mang, không có mang mèng lắm cũng “đoàng” được con cheo, con thỏ rừng. Chuyện ba bốn chục năm trước nhắc lại với nhau như mới hôm qua, vậy mà, với cánh thanh niên con trai tôi bây giờ nghe cứ như chúng tôi đang kể chuyện cổ tích!

Vâng. Mẹ Lúa bây giờ được xuống đất bằng, có mương nước, có ruộng nước tươi tốt hơn xưa và Mẹ Lúa về kho cũng đơn giản gọn nhẹ, dễ dàng hơn thời chúng tôi nhiều. Thung lũng IAĐRăng hôm nay tôi về đi đến đâu cũng thấy rầm rập xe công nông, xe bò chở sắn khô ra, chở các vật dụng sinh hoạt vào. Để có được những khoảnh ruộng vàng rộm dâng hương lúa mới dưới triền thung kia, để có được hạt thóc như hạt thóc nhà ông Siu Ho, nhà anh Kpa Miết bạn tôi ở làng mới định cư đây, đâu phải chuyện bình thường. Bao nhiêu công trình lớn nhỏ đã và đang hoàn thành.

Bao nhiêu của cải của dân, của nước phải trải qua không biết bao nhiêu chuyện mới cũ, đúng - sai. Ở trên kia là rừng già, làng buôn cũ với ngàn đời phong tục. Ở dưới này là hồ là ruộng, điện - đường - trường - trạm. Vậy mà đối với ông RơLan Liêng và các già làng thì ngược lại, bởi trong lòng, ai cũng mang nặng nỗi nhớ rừng già, nhớ làng cũ khôn nguôi. Người già nhớ chuyện cũ, đó là câu thành ngữ của người JơRai. Thanh niên thích leo núi  - đó là câu thành ngữ của người Bah Nar. Nhiều lúc nhớ lại cứ khiến tôi chạnh nghĩ, đối với bà con các dân tộc Tây Nguyên, rừng là tất cả. Cuộc sống của con người ở nơi đây nương tựa vào rừng. Không ai yêu rừng, tôn trọng rừng và giữ rừng hơn họ, bởi chính họ là những đứa con thiêng của rừng. Con người của cộng đồng làng là con người của mối liên hệ mật thiết giữa làng với rừng.

Nói đến làng rừng Tây Nguyên là nói đến những luật tục có liên quan đến sự sống còn của con người và sự tồn tại của rừng. Mỗi thành viên của cộng đồng làng gắn bó với nhau tạo nên sức mạnh để tồn tại và hoà nhập với rừng, với thiên nhiên. Tôi trở lại làng PLeiO, gặp  những người thân xưa cũ. Già Triêm, Già Rim, già Díp, anh Yaih... Làng mới định cư xuống núi hàng chục năm rồi, vậy mà nếp sinh hoạt xưa cũ quần tụ với nhau quanh bến nước, quanh nhà rông vẫn là niềm vui của mọi người. Hơn bốn mươi năm  rồi. Làng xuống núi có nhà ngói định cư rồi! Vì sao vẫn đói? Vì sao còn nghèo? Vì sao cái tập quán phát, đốt, chọc, trỉa, tuốt lúa bằng tay trên nương cũ đưa Mẹ Lúa về kho xa tít trên rừng già vẫn là niềm vui niềm hân hoan của một số bà con? Cán bộ địa phương biết, cán bộ trên tỉnh trên huyện trên Trung ương có biết vì sao không? Có. Có nhiều người biết, có nhiều người hiểu. Nhưng cũng có không ít người vì không hiểu mà chỉ đổ cho phong tục lạc hậu, đổ cho bà con dốt nát. “Mình không dốt nát lạc hậu đâu. Dân tộc mình ưng sống thế mà”. Một câu nói ấy của già làng khiến tôi không cầm lòng được, tự  thấy mình có lỗi. Tại sao đơn giản vậy mà mãi ta không hiểu ra? Đã là tập tục nghĩa là thói quen ngàn đời, bên trong những thói quen ấy là cả một bề dày văn hoá. Văn hóa, nương rẫy. Mình ưng theo thói quen ông bà mà. Vâng thói quen văn hoá đấy. Mà đã là nếp sống văn hóa, không phải dễ thay đổi một lúc! Sức nặng của tập tục lại trở thành vật cản trước cái mới. Cái mới ơi, cái mới đừng quên, khi rừng già không còn là nơi nương tựa của cộng đồng, cái mới chẳng làm nên chuyện gì đâu. Khi việc cúng thần, cúng Giàng vẫn còn theo già làng mà chưa có cái mới hay hơn thay thế thì cái mới ơi, cái mới cũng không đủ sức đem lại được niềm mong đợi ấm no hạnh phúc cho dân đâu.

Làng của người Tây Nguyên được hình thành từ nền văn minh trồng cây lúa khô nương rẫy. Đó là một tổ chức xã hội gần như duy nhất và cũng là cội nguồn của nền văn hoá bản địa. Trong sinh hoạt cộng đồng, mỗi khi nhà nào có việc, liền được sự đóng góp chung của mọi người. Ghè rượu quý nhất của mỗi gia đình được đem đến cùng chia sẻ. Niềm vui, nỗi buồn của mỗi người cũng là niềm vui, nỗi buồn chung của cả buôn làng. Cái sợ lớn nhất của con người ở đây, là một khi bị buộc phải tách ra khỏi cộng đồng, điều ấy còn sợ hơn cả cái chết. Bởi vậy, tôi nghĩ, Tây Nguyên, từ cội nguồn của văn hóa Làng - Rừng tạo nên sắc thái riêng biệt, độc đáo mà chỉ nơi đây - miền rừng nối tiếp miền rừng mới có.

Những quần thể tượng nhà mồ hồn nhiên sinh động hòa nhập vào tự nhiên như vẻ đẹp nguyên sơ của tâm hồn người bản địa. Mái ấm nhà rông chính là nơi quần tụ cộng đồng để các già làng lo việc chung, phân xử đúng sai và cũng là nơi trai tráng tụ tập phòng khi bất trắc. Văn hoá dân tộc nói chung vốn gắn liền với đời sống của cộng đồng. Một khi điều kiện sống thay đổi thì cũng sinh ra lắm chuyện. Làm sao giữ được nhà rông? Chúng ta không thể làm thay cho bà con, nhưng sự hỗ trợ (đúng) là rất cần thiết. Vì sao tôi lại ngoặc đơn ra cái chữ “đúng” này, bởi nhiều năm nay ta đầu tư cho nhà rông không ít, mà hiệu quả đem lại lại không nhiều, nếu nói không sợ sai, như cách nói của hoạ sỹ Xu-Man, người bạn già của tôi đã về với tổ tiên, hồi nghỉ hưu ông sống cùng bà con ở làng PLeiBung. Ông khắc khoải nhìn cảnh cán bộ đốc thúc bà con làm lấy được nhà rông mái tôn, ông bảo trật lất rồi. Vì sao sai? Vì các nhà quản lý và các nhà đầu tư không hiểu vẻ đẹp văn hóa lâu đời của nếp sinh hoạt nhà rông, mà chỉ muốn “cải tạo” nó thành ra hội trường! Nhà rông là nét đẹp văn hóa riêng của buôn làng rừng Tây Nguyên. Giữ được nó tức là giữ được cái hồn cốt của nét đẹp sinh hoạt cộng đồng.

Văn hóa Tây Nguyên nói chung cũng vậy. Nó thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa con người với tự nhiên. Ở đây, một người chết làm cả làng buồn. Buồn và khóc thương vì không còn được sống với người ấy nữa. Nhưng theo quan niệm của bà con: Chết không có nghĩa là hết. Người ta chết chỉ là chết cái phần xác thôi, chứ còn phần hồn, đã biến thành con ma rồi. Con ma vẫn sống quanh ta. Vì vậy, người chết vẫn cần cơm, cần rượu và mọi thứ vật dụng. Người sống phải chăm sóc cho người chết chu đáo. Rồi một ngày kia, để tiễn con ma về thế giới khác nơi cuối rừng, nơi mặt trời lặn, người ta làm lễ bỏ mả, tức là lễ hội Pơ Thi. Đó là lễ hội lớn nhất, sinh động nhất và vui vẻ nhất. Sau lễ hội tiễn biệt này, người sống và người chết không còn ràng buộc với nhau. Đời sống tâm linh của người Tây Nguyên vô cùng phong phú. Bà con cho rằng, bên trong mỗi cái cây, ché rượu, hòn đá, bầu nước, mọi vật quanh ta đều có linh hồn. Điều đó thể hiện sự tôn trọng sâu xa đối với tự nhiên. Tôi chợt thấy lo khi môi trường thay đổi, khi cái tín ngưỡng đa thần giáo ấy không còn giữ được,  điều gì sẽ diễn ra?

Có gì thay thế đây?

Vâng, đổi mới mang lại cuộc sống hiện đại nhiều cái mới, có nhiều cái mới tất có nhiều niềm vui. Nhưng phía sau niềm vui hiện đại là cả một sự vật vã chuyển mình của bà con. Ở Tây Nguyên ngày nay, rừng và làng đâu có còn quần tụ như xưa? Làng mới chuyển ra hai bên mặt đường thành ra nửa phố, nửa làng. Cuộc sống mới kéo theo biết bao đổi thay, hệ lụy về phong tục tập quán. Đi tới đâu, tôi cũng gặp cái hân hoan phấn khởi của lớp trẻ với dàn karaoke, bên cạnh đó, nỗi khắc khoải nhớ rừng của người già. Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa là tất yếu. Nhưng đằng sau nó là cả một vấn đề rất lớn về xã hội và con người.

Để Tây Nguyên thắng được cái đói, cái nghèo, rất cần sự quan tâm của toàn xã hội. Hơn nữa, cần sự hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên của các nhà hoạch định chính sách. Chính sách tạo cho bà con đường hướng phát triển lâu dài. Nhưng phải nhớ rằng, chính sách sai sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường.

Để biến những ý tưởng và khao khát của chúng ta có được một Tây Nguyên giàu đẹp, giữ được bản sắc văn hoá riêng thành hiện thực, tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại, chuyện này không thể nôn nóng, đâu phải chuyện một sớm một chiều.

Tây Nguyên, mái nhà chung của chúng ta. Đến với xứ sở này không phải chỉ là đến với một vùng đất đầy tiềm năng để khai thác, mà trước hết, cần đến từ những tấm lòng chân thật, không giả dối.

Nói đến núi rừng Tây nguyên là nhắc đến sông Ba, tức là Đak KRoongPa, ấy là ta nói đến một biểu tượng của vẻ đẹp hùng tráng của rừng, của núi, của các cộng đồng làng rừng Tây Nguyên lâu đời, mà bây giờ về thăm lại, ta không tài nào hình dung nổi, sau cuộc “đổi mới” mấy chục năm vừa qua nó lại có thể trở nên thảm hại đến mức  thế này! Từ sau công trình thủy điện Kan Nak chặn dòng đầu nguồn và các công trình “đàn em” tiếp theo kết hợp với các nhà máy mía đường… Ô nhiễm và “đổi dòng”, nước sông Ba đổ sang nước sông Côn, AYun Pa Bến Mộng thành ra bến Mộng Mị kinh hoàng. Ôi, Kan Năk, chiến công đánh Pháp, đánh Mỹ đâu rồi mà sao bây giờ thành ra  thế này? Vùng rừng núi chiến khu khu 2, khu 10 của quê hương anh hùng Núp bây giờ bị bọn loạn rừng phá tan hoang, ta thường gọi là lâm tặc. Lâm tặc là kẻ nào vậy Giàng ơi! Nhà thơ Hoàng Trung Thông viết "Có sức người sỏi đá cũng thành cơm" và bây giờ ta viết "Có sức người mà làm sai thì cơm cũng hóa ra bùn, ra đá sỏi thảm hại”. Rừng đầu nguồn ta còn được bao nhiêu? Sông suối đầu nguồn khô cằn vì sao? Và câu hỏi dưới hạ nguồn sông  cạn, suối khô thì sao đây? Cách nay vài chục năm thôi, về AYun Pa bến nước ta gọi là Bến Mộng, bây giờ mùa khô khô tận đáy, mùa mưa, phía trên đập xả dưới này nước lũ dâng vượt qua cầu, qua nhà, vượt qua đồi núi! Ai cũng thấy rõ, từ người dân BahNar, JơRai đến người Kinh, người Thái, người Mông mới di cư từ ngoài Tây Bắc Việt Bắc vào định cư.

Con sông Ba mà chết, núi rừng còn sống không Giàng ơi?

Người ta bảo Tây Nguyên huyền bí. Có lẽ điều ấy chỉ đúng khi còn rừng già. Rừng già và làng trong rừng là hai yếu tố cấu thành nền văn hóa cộng đồng độc đáo, lâu đời. Văn hóa Làng rừng ở Tây Nguyên chính là nguồn lực, là tiềm năng của sự phát triển. Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Phi vật thể thế giới chính là không gian văn hóa của làng rừng Tây Nguyên đấy. Khôi phục làng rừng ở Tây Nguyên cũng là khôi phục nguồn gốc của văn hóa. Văn hoá Tây Nguyên dường như đã trao cho các nghệ nhân của mình cái bản năng sinh tồn, nếu ta biết trân trọng một cách chân thành, đó chính là nguồn sống vô tận. Cũng giống như câu chuyện ở dưới chân núi Kong Chơ Ro xa xôi có một cặp vợ chồng nghệ sĩ. Họ đã từng là những người rất nổi tiếng, đi khắp đó đây, về sống trong một căn nhà sàn nhỏ bé sát mé rừng, bên dòng sông Ba do bà con buôn làng dựng. Đó là nghệ sĩ hát và múa lừng danh một thời, một nhà giáo khiêm nhường đã nghỉ hưu, tên chị là HBen, người BahNar và anh Thịnh, nghệ sĩ đàn viôlông thuở nào. Anh Thịnh, chồng chị, một chàng trai Hà Nội đắm đuối suốt đời cùng Tây Nguyên, cùng tình yêu và cùng niềm say mê của mình.

Lần nào về tôi đều đến thăm anh chị, nhưng lần này về vắng bóng anh! Vắng bóng chị! Hai năm rồi anh chị đã lần lượt ra đi nhẹ nhàng trong niềm thương yêu của dân làng BahNar. Bà con BahNar đã làm lễ tang theo phong tục của mình cho “cái đe Nhâng Thịnh” (anh Thịnh). Hàng chục năm nay, ngày ngày hai vợ chồng anh chị rủ nhau vào làng để nghe đồng bào hát và họ lặng lẽ ghi lại những bản dân ca, những điệu dân vũ, những bài hmon (bài hát kể mà chúng ta vẫn gọi là trường ca) dài bất tận như lịch sử thăng trầm của con người ở xứ sở này. Đó là nhu cầu tự thân của anh chị, như là cơm ăn, nước uống, như là khí trời để thở vậy. “Không” có ai tài trợ, chỉ có đồng bào tài trợ tình cảm cho mình thôi, chị trả lời nhà báo như thế. Vâng tôi cũng có biết, Nhà nước đầu tư cho việc khai thác trường ca ở đất này lên đến 21 tỷ đồng! Kể con số đó cũng gây ấn tượng và hấp dẫn lắm lắm. Nhưng thôi, đó là chuyện khác, chuyện khác dài lắm… Chuyện của tôi, mỗi lần trở lại Tây Nguyên bao giờ  tôi cũng “đi tranh thủ” về căn nhà sàn bé nhỏ của anh chị, bên ghè rượu cần, anh chị hát những làn điệu dân ca BahNar cổ mới khai thác được, kể những câu chuyện cổ thuở xa xưa nơi đây là rừng thiêng mới tìm ra qua miệng của người già cho tôi nghe. Và anh chị em chúng tôi lấy đó là niềm vui, là hạnh phúc.

Bao giờ cho tới ngày xưa hở Giàng!