Quảng Ninh: Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 12-NQ/TU về tăng cường quản lý than, khoáng sản

(TN&MT) - Ngày 18/4, Tỉnh ủy Quảng Ninh tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 12-NQ/TU ngày 12/1/2014 của BCH Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, khai thác, vận chuyển, chế biến và kinh doanh than trên địa bàn tỉnh.

Ảnh 1
Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, ông Nguyễn Văn Đọc trao bằng khen cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết 12..

Trong 5 năm qua, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý tài nguyên than, khoáng sản trên địa bàn. Cụ thể, trong lĩnh vực về than, thực hiện siết chặt hệ thống cảng, bến đảm bảo đúng quy hoạch, kiên quyết thực hiện việc cơ cấu lại tuyến vận tải theo hướng hạn chế sử dụng quốc lộ, giảm đường bộ, đẩy mạnh các phương thức vận tải thay thế; rà soát kỹ lưỡng các dự án, ngăn chặn và chống lợi dụng khai thác than trái phép.

Anh 2
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, ông Nguyễn Đức Long trao bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết 12.

Các ngành, đơn vị phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh than trái phép; xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhiều tập thể, cá nhân có trách nhiệm để xảy ra vi phạm. Trong 5 năm, đã tổ chức triệt phá 386 lượt điểm lò, khu vực khai thác than trái phép; bắt giữ 39 vụ vi phạm quy định (khởi tố 4 vụ, 46 bị can); 69 vụ tập kết, kinh doanh than trái phép, thu trên 14.500 tấn than các loại (khởi tố 6 vụ, 6 bị can); phát hiện, bắt giữ 718 trường hợp vận chuyển than trái phép, thu trên 33.000 tấn than các loại (khởi tố 2 vụ, 10 bị can)… Đến nay, hoạt động khai thác than hầm lò trái phép, các điểm nóng phức tạp về an ninh trật tự liên quan đến than, khoáng sản cơ bản không còn, tạo được chuyển biến rõ nét, tích cực, kiểm soát được tình hình, giữ được tài nguyên, đồng thời đảm bảo an ninh trật tự.

Anh 3
Quang cảnh hội nghị.

Đối với lĩnh vực khoáng sản phục vụ xây dựng, Quảng Ninh đã tăng cường công tác quản lý, có hướng điều chỉnh các quy hoạch đảm bảo bền vững và giảm dần khai thác; rà soát, kiểm tra, giám sát các dự án có khai thác, tận thu cát, sỏi, sét; chấn chỉnh hoạt động về đất san lấp; tăng cường xử lý tình trạng khai thác trái phép; xử lý kỷ luật nghiêm đối với trường hợp vi phạm, lập lại trật tự về hoạt động khoáng sản…

Phát biểu tại hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, ông Nguyễn Văn Đọc khẳng định, những kết quả rõ nét nhất từ việc thực hiện Nghị quyết 12-NQ/TU trong 5 năm qua đó là thông qua công tác quản lý chặt chẽ, đến nay đã kiểm soát được việc khai thác, vận chuyển, kinh doanh than và vật liệu khoáng sản thông thường trên địa bàn tỉnh; không để xảy ra điểm nóng về khai thác than trái phép; kiểm soát được môi trường khai thác than; bảo vệ môi trường tự nhiên; đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, không có điểm nóng về tội phạm than.

Về các giải pháp trong thời gian tới, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh yêu cầu phải siết chặt công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tài nguyên than, khoáng sản; việc khai thác than, khoáng sản phải thực hiện đúng Quy hoạch 403 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng năm 2030 và Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm vật liệu thông thường, khoáng sản phân tán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Đồng thời, yêu cầu kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển than, khoáng sản, thực hiện vận chuyển trên các tuyến đường chuyên dụng theo quy định; kiên quyết dừng vận chuyển trên các tuyến quốc lộ 18A, 10, 17A. Rà soát, đối chiếu nhu cầu sử dụng cảng, bến và vùng khai thác của TKV và Tổng Công ty Đông Bắc; hướng tới việc cấp phép cảng kinh doanh than, khoáng sản chỉ cấp cho các đơn vị của TKV và Tổng Công ty Đông Bắc.

Nhấn mạnh đến làm rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, cá nhân, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh yêu cầu: Nếu việc khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép xảy ra trong ranh giới mỏ thì giám đốc công ty than và ngành Than phải chịu trách nhiệm. Ngoài ranh giới mỏ, trách nhiệm thuộc về chính quyền, địa phương. Tại cảng xuất than thì chủ cảng, lực lượng công an giao thông chịu trách nhiệm.

 

 

Phạm Hoạch

  Ý kiến bạn đọc
Tin cùng chuyên mục