Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không ngừng phát triển và lớn mạnh

Ngày đăng : 15:45, 03/09/2019

(TN&MT) - Kể từ ngày 3/9/1975, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam (tổ chức tiền thân của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) được thành lập, 44 năm qua Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không ngừng phát triển và lớn mạnh trở thành đầu tàu của nền kinh tế, là công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô của Chính phủ, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và đi đầu trong công tác an sinh xã hội...

Đầu tàu của nền kinh tế

Hơn 4 thập kỳ qua, tập thể cán bộ, công nhân lao động Tập đoàn Dầu khí Việt Nam qua các thời kỳ luôn ý thức được trách nhiệm, vượt mọi khó khăn, từng bước xây dựng ngành Dầu khí phát triển, xứng đáng với niềm tin của Đảng và nhân dân. Đặc biệt, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thực hiện ý nguyện của Bác đã từng bước thực hiện hoàn chỉnh và hiện đại hóa chuỗi công nghệ dầu khí, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến phát triển công nghiệp khí - công nghiệp điện, chế biến và dịch vụ dầu khí; xây dựng hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí với sự ra đời các trung tâm sản xuất điện như Nhơn Trạch, cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Cà Mau, nhà máy lọc dầu Dung Quất, hệ thống hạ tầng cảng dịch vụ dầu khí tại Vũng Tàu; Đóng vai trò nòng cốt, là hạt nhân trong việc hình thành các khu công nghiệp tập trung tại: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai - Hiệp Phước, Cà Mau, Dung Quất - Quảng Ngãi, Vũng Áng - Hà Tĩnh, Nghi Sơn - Thanh Hóa...

.


Sự đầu tư đồng bộ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia, cơ bản đáp ứng yêu cầu về năng lượng, phân bón của cả nước.

Những dự án, công trình mang tầm cỡ khu vực là minh chứng rõ ràng cho trình độ, năng lực của cán bộ, kỹ sư dầu khí Việt Nam, là tiền đề quan trọng nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu dịch vụ dầu khí ra nước ngoài.

Minh chứng cho sự phát triển của ngành Dầu khí đó là những con số về tài sản, doanh thu và nộp ngân sách nhà nước. Từ khi bắt đầu hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế năm 2006, tổng tài sản của Tập đoàn ước gần 147.000 tỷ đồng, thì đến đến 30/6/2019, con số này tăng 5,6 lần là trên 829.200 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu từ hơn 98.000 tỷ đồng năm 2006, đã đạt hơn 466.000 tỷ đồng năm 2019 tăng 4,75 lần. Trong từng giai đoạn, PVN luôn đóng góp trung bình từ 10 – 30% cho ngân sách nhà nước; khai thác trên 391 triệu tấn dầu thô, trên 143 tỷ m3 khí.

Vai trò quan trọng trong an ninh năng lượng quốc gia

Theo Tiến sỹ Nguyễn Hồng Minh - Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam thì tỷ trọng đóng góp của dầu khí trong cơ cấu năng lượng Việt Nam rất cao, bình quân 40% tổng cung cấp năng lượng sơ cấp, khoảng 35% tổng nhu cầu tiêu thụ năng lượng cuối cùng trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay. Tổng cung cấp năng lượng sơ cấp năm 2017 vào khoảng 71,9 triệu TOE với tốc độ tăng trưởng 7%/năm. Trong đó, dầu thô và các sản phẩm dầu chiếm 28,33%, khí chiếm khoảng 12,3%. Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng năm 2017 là 60 triệu TOE. Trong đó, các sản phẩm xăng dầu chiếm 35%, khí chiếm khoảng 2%. Dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu khí vẫn tiếp tục tăng cao trong các thập kỷ tới.

Trong thời gian qua, PVN đã đa dạng hóa và mở rộng công suất lắp đặt các nhà máy điện khí, điện than, điện gió, thủy điện… góp phần đáp ứng nhu cầu điện năng ngày càng tăng của nền kinh tế. Tổng công suất các nguồn điện do PVN đầu tư là 4.208MW, chiếm khoảng 10% toàn hệ thống. Các dự án điện khí Cà Mau 1 và 2, Nhơn Trạch 1 và 2 đi vào hoạt động đã góp phần giải quyết căn bản tình trạng thiếu điện hiện nay ở các tỉnh, thành phía Nam, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đặc biệt trong các tháng mùa khô. Ngành dầu khí đã đóng góp 170 tỷ kWh điện tương đương với 30%.

.
Các dự án điện khí Cà Mau 1 và 2, Nhơn Trạch 1 và 2 đi vào hoạt động đã góp phần giải quyết thiếu điện ở các tỉnh, thành phía Nam

Các nhà máy điện do PVN đang đầu tư như Thái Bình 2, Long Hậu… và chuẩn bị đầu tư như Miền Trung 1,2,3, Nhơn Trạch 3,4, Sơn Mỹ 1,2,3  khi hoàn thành sẽ là nguồn phát điện lớn cho đất nước, góp phần đảm bảo cân bằng an ninh năng lượng.

PVN đã mở rộng đầu tư cho các dự án sản xuất xăng dầu để nâng cao giá trị tài nguyên, tiết kiệm ngoại tệ và dần chủ động trong việc cung cấp xăng dầu. PVN đã triển khai đầu tư và đưa vào vận hành thành công các dự án lọc hóa dầu. Nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam - Nhà máy Lọc dầu Dung Quất với công suất 6,5 triệu tấn/năm bắt đầu vận hành thử vào tháng 2/2009 và có sản phẩm thương mại từ tháng 5/2010. Đây là bước tiến quan trọng trong hoạt động chế biến dầu khí cũng như đánh dấu sự phát triển hoàn chỉnh chuỗi giá trị dầu khí của Việt Nam. Đến cuối năm 2018, Nhà máy Lọc Hóa dầu Nghi Sơn với công suất 10 triệu tấn/năm cũng đã đi vào sản xuất. Các nhà máy này sẽ đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu cho thị trường trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu, góp phần ổn định nguồn cung cho thị trường năng lượng.

Cùng với đó Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống hạ tầng năng lượng dầu khí đồng bộ, tiên tiến, hiện đại tại miền Bắc và miền Nam trong đó tập trung chủ yếu tại thềm lục địa miền Nam.

.

Dầu khí là ngành kinh tế - kỹ thuật đặc biệt, gắn liền không chỉ là bài toán năng lượng mà là chuỗi giá trị kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước và đặc biệt là phát triển kinh tế vùng, tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo, đóng góp ngân sách nhà nước… Những người lao động Dầu khí qua các thời kỳ đã và đang phát huy trí tuệ, bản lĩnh, lao động sáng tạo với tinh thần đổi mới để xây dựng ngành Công nghiệp dầu khí xứng đáng với kỳ vọng của Bác Hồ, với niềm tin của Đảng và nhân dân. Nhưng hơn bao giờ hết, ngành Dầu khí cần sự đồng hành, chia sẻ, vào cuộc quyết liệt để tháo gỡ những khó khăn, cả khách quan lẫn chủ quan, trong bối cảnh thị trường dầu khí thế giới có nhiều biến động khó lường, để tiếp tục phát huy vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước.