Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV): Áp dụng công nghệ khai thác than hầm lò ngang bằng thế giới

(TN&MT) - Tại Hội nghị tổng kết công tác kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò giai đoạn 2014 - 2018, phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2019 - 2023, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Đặng Thanh Hải nhấn mạnh: “Trong thời gian tới, cần tiếp tục quản lý các chỉ tiêu công nghệ sâu sắc hơn, chặt chẽ hơn, phù hợp với trình độ của các nước có nền khai khoáng tiên tiến trên thế giới. Vấn đề an toàn luôn phải đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, cần tập trung vào công tác đào lò nhanh”.

T14
TKV tiếp tục quản lý chỉ tiêu công nghệ, phù hợp với trình độ của nền khai khoáng tiên tiến trên thế giới. Ảnh: MH

Báo cáo của TKV cho biết, trong giai đoạn từ năm 2014 - 2018, việc triển khai áp dụng công nghệ mới trong đào lò, khai thác được lãnh đạo Tập đoàn quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, nhằm cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, nâng cao năng suất, giảm giá thành khai thác.

Các công nghệ tiên tiến của các nước có nền công nghiệp khai khoáng phát triển (Nga, Nhật Bản, Ba Lan, Trung Quốc...) đã dần được đưa vào thử nghiệm, đánh giá và triển khai áp dụng tại các đơn vị thành viên trong Tập đoàn.

Thời điểm hiện tại, TKV đang triển khai đa dạng, không thua kém bất cứ tập đoàn hay công ty nào trên thế giới về mặt công nghệ khai thác than hầm lò. Tuy vậy, việc áp dụng các công nghệ khai thác bằng cơ giới hóa đồng bộ và các công nghệ tiên tiến để nâng cao công suất lò chợ phụ thuộc rất lớn vào điều kiện địa chất khu vực.

Theo TKV, trong khi các nước trên thế giới có thuận lợi lớn nhất là trữ lượng than hầm lò tập trung tại các vỉa than dày, góc dốc thoải, chiều dài theo phương lớn và ổn định, hầu hết, các mỏ than hầm lò tại Tập đoàn là các vỉa than có chiều dày từ mỏng đến dày trung bình, góc dốc lớn, chiều dài theo phương ngắn và thường bị chia cắt bởi các phay phá địa chất.

Vì vậy, việc triển khai áp dụng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ và các công nghệ tiên tiến để nâng cao công suất lò chợ của Tập đoàn trong những năm qua vẫn chỉ dừng lại ở mức lựa chọn được một số đơn vị có điều kiện thuận lợi để áp dụng và dự kiến sau này, sẽ nhân rộng tại các đơn vị có điều kiện địa chất tương tự, còn lại chủ yếu là các công nghệ khai thác truyền thống.

Trong giai đoạn từ năm 2014 - 2018, sản lượng của các lò chợ áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến (CGH, giàn mềm, giá khung, giá xích) đang tăng dần qua các năm, thay thế cho các lò chợ áp dụng công nghệ cũ, kém hiệu quả, lạc hậu (giá TLDĐ, cột TLĐ, phân tầng, ngang nghiêng, buồng cột).

Ở công tác thông gió mỏ, hiện nay, các mỏ hầm lò trong Tập đoàn đều được trang bị đủ trạm quạt gió chính có hệ thống đảo chiều; việc đảo chiều gió được thực hiện theo quy định 2 lần/năm. Các đơn vị đã kiểm toán lại mạng gió, cải tạo nâng cấp và đầu tư mới quạt gió chính có lưu lượng, hạ áp đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng, đảm bảo điều kiện vi khí hậu cho người lao động.

Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị xây dựng 10 cửa gió tự động ở các đơn vị: Nam Mẫu, Khe Chàm, Thống Nhất, Dương Huy; đang triển khai tự động hóa trạm quạt gió chính ở Công ty than Mạo Khê.

Các mỏ hầm lò đã đầu tư quạt cục bộ có cơ cấu giảm thanh, quạt đa cấp, ống gió có đường kính từ lớn (700 - 1.200 mm) để thông gió cho các gương lò dài, gương lò cơ giới hóa.

Tính đến hết 2018, các đơn vị trong Tập đoàn đang quản lý và sử dụng 455 quạt đa cấp các loại, 983 quạt đơn cấp; việc đầu tư các quạt đa cấp để hạn chế việc lắp nối tiếp nhiều quạt thông gió cho một gương lò dài.

Theo kế hoạch kỹ thuật 5 năm từ 2019 - 2023, mục tiêu điều hành kế hoạch của Tập đoàn là duy trì sản xuất ổn định, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, mô hình quản trị phù hợp, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng đảm bảo phát triển bền vững, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và phúc lợi cho người lao động, đặc biệt là thợ lò.

Phấn đấu đến năm 2023, sản lượng than khai thác bằng CGH (CGH đồng bộ, CGH loại nhẹ và các loại hình CGH khác) đạt 20 - 25% tổng sản lượng than khai thác hầm lò. Phấn đấu đến năm 2023 tỷ lệ mét lò neo đạt 23 ÷ 25% tổng mét lò đào mới. Không để xảy ra các vụ tai nạn, sự cố nghiêm trọng về khí, cháy mỏ, bục nước mỏ và ngập mỏ hầm lò, đáp ứng các yêu cầu ổn định sản xuất của mỏ.

Chủ tịch HĐTV Lê Minh Chuẩn chỉ đạo, trong giai đoạn 2019 - 2023, đối với công tác kỹ thuật công nghệ trong khai thác đào lò, các đơn vị thành viên thực hiện đúng các văn bản của Nhà nước, của Bộ Công Thương; các hướng dẫn, quy định của TKV đã ban hành. Đồng thời, tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy trình công nghệ, văn bản, tài liệu hướng dẫn cho phù hợp với thực tế sản xuất để áp dụng chung trong toàn Tập đoàn.

Mặt khác, các đơn vị sản xuất than hầm lò, xây lắp mỏ phải đổi mới tư duy, nhận thức và phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc áp dụng CGH trong khai thác, đào lò vào sản xuất. Phải xác định trong điều kiện tuyển dụng lao động thợ lò khó khăn muốn nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh không còn cách nào khác phải khẩn trương, tích cực áp dụng CGH vào khai thác, đào lò.

Hà Phạm

  Ý kiến bạn đọc
Tin cùng chuyên mục