Nghịch lý có đất không cần, cần đất không có!

Thứ Tư, 06/12/2017, 16:59 (GMT+7)
.

Rất đau xót khi nhìn đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang hoặc không được tận dụng, phát huy hiệu quả triệt để. Đáng nói là, tình trạng này sẽ không dừng lại. 

Đó là nghịch lý về đất nông nghiệp hiện nay. Trong khi không ít cá nhân, DN đang rất “khát” ruộng đất để triển khai các dự án nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, bằng kỹ thuật, công nghệ cao hoặc đơn giản là có chỗ để mưu sinh bằng việc cấy cày, chăn nuôi mà không có thì ở nhiều địa phương ngày càng có nhiều thửa ruộng, cánh đồng bị nông dân bỏ hoang, có tỉnh ruộng đất bị bỏ hoang lên tới cả nghìn ha.

Ai bỏ ruộng và vì sao lại bỏ ruộng? Tìm hiểu tại một số tỉnh thuộc vùng Nam sông Hồng như Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương... chúng tôi nhận thấy việc ruộng đất bị bỏ hoang có mẫu số chung là do tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chi phí lớn, đầu ra bấp bênh, thu nhập thấp dẫn đến việc nhiều nông dân chán ruộng, bỏ đồng.

Cánh đồng bị bỏ hoang ở huyện Vũ Thư (Thái Bình)
Cánh đồng bị bỏ hoang ở huyện Vũ Thư (Thái Bình)

Nguyên nhân khác xuất phát từ những biến chuyển của đời sống tam nông. Tìm hiểu những hộ nông dân bỏ ruộng thì thấy, thứ nhất họ là những hộ đời bố mẹ, ông bà làm nông nhưng đến đời con cháu thì thoát ly, trở thành cán bộ, công chức, viên chức, không còn nhân lực để sản xuất. Thứ hai là các hộ tuy không "ly hương” nhưng trên thực tế cũng đã "ly nông”.

Thu nhập từ ruộng đồng thấp, họ chuyển qua kinh doanh, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ cho chính cộng đồng làng quê mình như mở một cửa hàng tạp hóa, một hàng ăn, một quán internet, cho thuê phông bạt, bàn ghế phục vụ đám cưới, đám ma... và có thu nhập chính từ đấy. Ruộng đồng, từ lâu với các hộ này chỉ là "có cũng nên, quên cũng thôi”. Với những thôn làng có nghề truyền thống, người dân còn dựa vào nghề cha ông để lại, coi ruộng đất chỉ là phụ.

Thứ ba là những hộ dù có ruộng nhưng lao động chính không làm nông mà đã và đang có việc làm ổn định tại các khu, cụm công nghiệp trong và ngoài làng. Thứ tư là những hộ dù có ruộng nhưng lao động chính đều ly hương, tìm về các đô thị, gia nhập khu vực lao động không chính thức (làm thợ xây, thợ mộc, lái taxi...). Ngoài ra, như đã biết, những năm qua còn có một lượng rất lớn lao động ở nông thôn rời ruộng đồng đi xuất khẩu lao động.

Với thực tế trên, tưởng như nếu có nhu cầu tập trung, tích tụ ruộng đất để triển khai các dự án nông nghiệp tập trung, các cá nhân, tổ chức sẽ rất dễ dàng, thuận lợi trong tiếp cận. Vậy nhưng, thực tế lại không phải như vậy, ngược lại những cá nhân, tổ chức có nhu cầu tập trung, tích tụ ruộng đất lại đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Do đâu nên nỗi?

Đầu tiên, xuất phát từ tâm lý muốn giữ đất của các hộ nông dân. Như đã biết, ruộng đất, dù ở thời kỳ nào cũng luôn gắn bó máu thịt với nông dân. Cùng đinh, không một tấc đất cắm dùi từng là nỗi thống khổ của bao thế hệ cha ông. Vậy nên ngày nay, dù nhiều người không còn gắn bó với ruộng đất, chuyển đổi, sinh sống bằng nhiều công việc, ngành nghề khác nhưng vẫn có tâm lý phải giữ cho bằng được ruộng đất, với suy nghĩ nếu gặp thất bại, rủi ro vẫn còn "đường lùi” về làm ruộng.

Đã thế, khi cho thuê ruộng đất, các cá nhân, doanh nghiệp thường trả cho nông dân mức giá thuê rất thấp. Như một dự án tại huyện Lý Nhân (Hà Nam), doanh nghiệp chỉ trả số tiền bằng 120kg ngô/sào/năm; ở Thái Bình nông dân chỉ được trả khoảng 600.000 đồng/sào/năm. Những mức giá thuê ruộng này không hấp dẫn. Đã thế, sau khi cho doanh nghiệp thuê ruộng đất, rất ít nông dân được tuyển dụng vào làm việc.

Trong khi đó, như đã biết, mô hình nông dân liên kết làm ăn với doanh nghiệp theo cách góp cổ phần bằng ruộng đất được nhắc đến nhưng chưa xuất hiện nhiều trên thực tế. Ý tưởng về "ngân hàng ruộng đất" cũng chưa ra đời. Việc dồn đổi những diện tích đất nông nghiệp giữa các hộ có và không có nhu cầu cho thuê thành những diện tích lớn, tập trung đang rất khó khăn, phức tạp, do vậy chính quyền thường ngại khi đụng phải việc này.

Rất đau xót khi nhìn đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang hoặc không được tận dụng, phát huy hiệu quả triệt để. Đáng nói là, tình trạng này sẽ không dừng lại. Theo xu thế phát triển, khu vực công nghiệp, dịch vụ sẽ rút ngày càng nhiều hơn lao động nông nghiệp; đồng nghĩa với việc ngày càng có thêm nhiều hộ dân được giao ruộng đất nhưng không còn nhu cầu sử dụng. Và, nghịch lý người có ruộng đất thì bỏ hoang, người cần ruộng đất thì phải khoanh tay đứng nhìn vẫn cứ tồn tại, phát sinh thêm nhiều hệ lụy.

Theo Nông nghiệp VN

 

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.