Sơn La: Hơn 37% số công trình cấp nước nông thôn kém hiệu quả

Thứ Năm, 01/12/2016, 17:24 (GMT+7)
.

(TN&MT) – Trước thực trạng đó, UBND tỉnh Sơn La vừa ban hành chỉ thị số 17/CT-UBND về việc nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý vận hành các công trình nước sạch tập trung nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Sơn La đang tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý vận hành các công trình cấp nước sạch nông thôn.
Sơn La đang tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý vận hành các công trình cấp nước sạch nông thôn.

Theo thống kê từ Sở Nông nghiệp và PTNT Sơn La, từ năm 2000 đến hết quý I/2016, trên địa bàn tỉnh Sơn La có 1.437 công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn được đầu tư và đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, sau khi rà soát, tỷ lệ hoạt động của các công trình kém hiệu quả và không hoạt động còn cao, chiếm 37,9%, trong đó 20,7% số công trình hoạt động kém hiệu quả; 17,2% công trình không hoạt động. Số công trình hoạt động bền vững chỉ khoảng 20,9%.

Nguyên nhân các công trình không hoạt động và kém hiệu quả là do công tác quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều bất cập; việc quản lý sau đầu tư không được chính quyền địa phương, các đơn vị được phân cấp quản lý quan tâm đúng mức. Cơ chế chính sách quản lý đầu tư, khai thác chưa thống nhất, dẫn đến các công trình xây dựng theo nhiều tiêu chuẩn, chất lượng khác nhau, việc bàn giao công trình thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra, giám sát. Mô hình tổ chức quản lý, vận hành ở nhiều công trình chưa phù hợp....

Do đó, để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý vận hành các công trình cấp nước, UBND tỉnh Sơn La yêu cầu UBND các huyện, thành phố tiếp tục rà soát hiện trạng, đánh giá hiệu quả hoạt động các công trình cấp nước tập trung, bao gồm hiện trạng công trình và trang thiết bị, tình trạng hoạt động, phân loại công trình và hình thức tổ chức quản lý vận hành. Làm rõ nguyên nhân tồn tại và có phương án xử lý cụ thể đối với từng công trình hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động.

Đồng thời, thực hiện xác lập sở hữu nhà nước đối với các công trình do UBND các huyện, thành phố quản lý theo quy định của nhà nước. Nội dung chủ yếu gồm: Tên, địa chỉ công trình; Năm xây dựng, năm đưa vào sử dụng; Diện tích (đất, sàn xây dựng); Công suất (thiết kế, thực tế); Hiện trạng hoạt động thực tế của công trình (bền vững, trung bình, kém hiệu quả, không hoạt động); Giá trị công trình; Trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Tổng kết đánh giá các hình thức tổ chức quản lý vận hành để lựa chọn hình thức phù hợp. Đối với những công trình cấp nước hoạt động kém hiệu quả hoặc không hoạt động, cương quyết chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư và quản lý khai thác vận hành công trình sau đầu tư. Chỉ thực hiện việc phân cấp đầu tư xây dựng và quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung khi thẩm định đơn vị có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và nắm vững quy định hướng dẫn của chương trình.

UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành  phố nghiên cứu, đánh giá, lựa chọn công nghệ xử lý nước phù hợp với điều kiện nguồn nước, kinh tế - xã hội, phong tục tập quán ở địa phương để hướng dẫn các đơn vị, địa phương thực hiện; kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh.

Chỉ đạo Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước theo QCVN: 02-2009/BYT của Bộ Y tế.

Giao Sở TN&MT hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, chủ đầu tư các dự án công trình cấp nước sạch tập trung nông thôn thực hiện nghiêm việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; xác định và công bố hành lang bảo vệ nguồn nước, khu vực lấy nước sinh hoạt; chấp hành pháp luật đất đai, sử dụng đất đai cho dự án có hiệu quả.

Nguyễn Nga

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.