Nan giải chống thất thu thuế từ khai khoáng

Thứ Hai, 16/03/2015, 11:07 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Bắc Kạn sở hữu nhiều mỏ khoáng sản; có nhiều doanh nghiệp tham gia khai thác, chế biến khoáng sản. Lợi thế này đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước nhưng cũng không tránh khỏi việc thất thu. Khoáng sản vẫn chảy đi và thất thu thuế, phí tài nguyên đang trở thành một vấn đề bức xúc.

Khai thác khoáng sản trái phép vừa mất tài nguyên, vừa thất thu thuế vừa hủy hoại môi trường.
Khai thác khoáng sản trái phép vừa mất tài nguyên, vừa thất thu thuế vừa hủy hoại môi trường.

Khó tránh thất thu

Thuế tài nguyên đang đóng góp một phần không nhỏ vào tổng thu ngân sách hàng năm của Bắc Kạn. Theo số liệu của Phòng Tổng hợp- Nghiệp vụ- Dự toán (Cục Thuế Bắc Kạn), từ năm 2010 tới 2014, tổng thuế tài nguyên thu được hơn 145 tỷ đồng. Cụ thể, năm 2010 thu được hơn 23 tỷ đồng; năm 2011 hơn 32 tỷ đồng; năm 2012 hơn 36 tỷ đồng; năm 2013 hơn 28 tỷ đồng và năm 2014 hơn 24 tỷ đồng. Chợ Đồn là địa bàn thu được cao nhất với số thu trung bình khoảng 15 tỷ/năm. Dù hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản diễn ra ở hầu khắp các địa bàn thì có những địa bàn như Ngân Sơn, nhiều mỏ được cấp phép nhưng số thu thấp.

Đến hết năm 2014, trên địa bàn tỉnh có 114 doanh nghiệp nợ thuế và phí với số tiền hơn 269 tỷ đồng, chiếm hơn nửa số thu thực tế. Trong đó, có 9 doanh nghiệp khai thác khoáng sản nợ hơn 17 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp nợ thuế với số tiền lớn đã không liên lạc được và khó mà thu được thuế nợ.

Công ty cổ phần Thương mại và Khoáng sản Nguyên Phát (Công ty Nguyên Phát) khai thác vàng ở xã An Thắng, (Pác Nặm) nợ thuế và phí bảo vệ môi trường hơn 184 tỷ đồng. Công ty khai thác mỏ vàng từ năm 2011 nhưng nộp tiền thuế và phí bảo vệ môi trường rất “nhỏ giọt”. Cụ thể, năm 2012, số tiền phải nộp là 105 tỷ đồng, doanh nghiệp chỉ nộp hơn 4,2 tỷ đồng; năm 2013, số phải nộp là 87,6 tỷ đồng, chỉ nộp hơn 3,8 tỷ đồng. Cũng không biết đến bao giờ mới có thể thu được hết số thuế nợ của công ty này. Công ty Kim Mỹ Hưng, khai thác vàng tại Na Rì, được vàng rồi lặng lẽ bỏ lại bãi hoàn thổ kém chất lượng cùng khoản nợ thuế. Nhiều doanh nghiệp thì cố tình khai thác ra ngoài chỉ giới được cấp phép để “kiếm thêm”.

Có những doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Khoáng sản Na Rì Hamico có phương án vận chuyển được phê duyệt thì chở quá trọng tải, thời điểm bị kiểm tra không xuất trình được hóa đơn, chứng từ. Điều đó khiến dư luận không thể không đặt câu hỏi: có bao nhiêu xe chở khoáng sản không được kê khai, không có hóa đơn đã đi ra khỏi Bắc Kạn? Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra ở Ngân Sơn; khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Na Rì)… cũng khiến Bắc Kạn mất đi rất nhiều thuế tài nguyên trong khi môi trường bị tàn phá nặng nề. Hay như mỏ vàng Pác Lạng, thuế tài nguyên chưa thấy đâu nhưng huyện Ngân Sơn năm nào cũng phải bỏ ra tiền tỷ để bảo vệ mỏ vàng này. Biểu giá tính thuế tài nguyên khoáng sản đã được tỉnh ban hành từ năm 2013 cụ thể tới từng loại kể cả đất khai thác để san lấp công trình, cát, sỏi, nước ngầm… nhưng tình trạng khai thác trái phép những loại tài nguyên này diễn ra phổ biến mà tỉnh không thu được gì.

Cần minh bạch từ khâu khai thác

Thu thuế trong lĩnh vực thuê đất, tài nguyên và phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh luôn là lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Thời gian qua, mặc dù UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường công tác quản lý, ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép, trốn thuế, phá huỷ môi trường nhưng việc quản lý thu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản hiện nay chỉ thực hiện được đối với các cơ sở có địa điểm cố định. Việc thu thuế và phí bảo vệ môi trường đối với các cá nhân trực tiếp khai thác cát, sỏi, đất, đá hầu như chưa quản lý được do địa bàn rộng, khai thác chủ yếu bằng thủ công, địa điểm không cố định, dẫn đến tình trạng không kê khai hoặc kê khai thiếu số lượng. 

Ông Ma Viết Thời- Phó Chi cục trưởng Chi Cục Thuế huyện Chợ Đồn chia sẻ, thuế tài nguyên chiếm phần lớn tổng thu toàn huyện hàng năm. Đơn cử như năm 2013 thu được gần 16 tỷ đồng; năm 2014 thu được hơn 13 tỷ đồng. Để chống thất thu thuế tài nguyên, đơn vị đã kiểm tra và phối hợp giám sát chặt chẽ nhưng chắc chắn việc thất thu ngoài con số các doanh nghiệp tự khai là khó tránh khỏi.

Hiện nay, các doanh nghiệp khai khoáng đang phải đóng các loại thuế, phí gồm thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế bảo vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường, phí độc quyền thăm dò khoáng sản, phí cấp giấy phép khai thác khoáng sản, thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Việc doanh nghiệp tự kê khai nộp thuế là phù hợp với nền quản lý tiên tiến của thế giới. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn tới việc gian lận nguồn thu rồi dẫn tới sau một thời gian khai thác doanh nghiệp tư nhân “tuyên bố” phá sản hoặc lặng lẽ bỏ đi để chây ỳ nghĩa vụ nộp thuế, phí. Vấn đề này đặt ra bài toán phải làm tốt khâu hậu kiểm, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để tránh gian lận.

Thực tế tại Bắc Kạn công tác hậu kiểm hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản vẫn còn nhiều hạn chế. Bản thân ngành Thuế không có chức năng, đủ lực lượng và thời gian để có thể giám sát từng xe quặng của doanh nghiệp. Sở Công thương cũng khó mà giám sát tuyệt đối được việc thực hiện các phương án vận chuyển đã được phê duyệt. Hầu như năm nào cũng có sự vụ về việc chở quá tải trọng, chở không đúng phương án vận chuyển đã được phê duyệt xảy ra.

Ông Nguyễn Duy Thể- Phó Cục trưởng Cục Thuế Bắc Kạn cho biết, Luật Thuế sửa đổi bổ sung đã quy định, doanh nghiệp không còn phải kê khai theo hóa đơn mà chỉ kê khai tổng lượng hàng hóa mua bán. Điều này phục vụ cải cách hành chính, giảm thiểu thủ tục đối với doanh nghiệp nhưng cũng rất đáng lo với việc thu thuế, phí tài nguyên. Bởi lẽ, việc đi hậu kiểm từng doanh nghiệp, từng phương án vận chuyển và kiểm tra từng hóa đơn là gần như không thể.

Thời gian qua, để chống thất thu thuế tài nguyên, ngành Thuế đã phối hợp với các ngành liên quan triển khai nhiều giải pháp. Trong đó, giải pháp cơ bản là doanh nghiệp trước khi vận chuyển theo phương án được duyệt phải hoàn thành nghĩa vụ thuế tài nguyên đối với khối lượng được phép vận chuyển. Đây là giải pháp hiệu quả nhưng khó triệt để nếu như công tác hậu kiểm không được thực hiện tốt. Điều cần quan tâm là phải có đánh giá trữ lượng chi tiết của từng mỏ khoáng sản để khi cấp phép có cơ sở để ấn định thuế khoán và thu phí bảo vệ môi trường. Hoạt động khai khoáng phải làm chặt từ khâu cấp phép, đánh giá trữ lượng, sản lượng khai thác. Khi số liệu chuẩn xác, rõ ràng thì hậu kiểm sẽ dễ dàng và sẽ không có cơ hội cho doanh nghiệp gian dối./.

Tuấn Sơn

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.