Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông:

Giải pháp bảo đảm sử dụng tổng hợp nguồn nước hiệu quả

Chủ Nhật, 30/07/2017, 14:53 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Theo Cục Quản lý tài nguyên nước, việc ban hành kịp thời 11 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm bảo đảm sử dụng tổng hợp nguồn nước và phòng chống tác hại do nước gây ra.

Đây cũng là cơ sở pháp lý cho việc quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn nguồn nước của các hồ chứa thủy lợi, thủy điện; gắn chế độ vận hành của công trình với các yêu cầu về phòng, chống lũ và điều tiết nước dưới hạ du các hồ để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường của các địa phương trên các lưu vực sông lớn, quan trọng của Việt Nam.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Thực hiện Quyết định số 1879/QĐ-TTg  ngày 13 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh mục các hồ thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông lớn gồm: sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, sông Ba, sông Sê San, sông SrêPôk và sông Đồng Nai.

Theo đó, để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa, Cục Quản lý tài nguyên nước đã tổ chức các Hội nghị lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan; công bố, quán triệt, hướng dẫn việc thực hiện 11 quy trình vận hành liên hồ chứa nêu trên tới các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương có liên quan, bao gồm cả Lãnh đạo Ủy ban nhân dân và Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh, cấp huyện, các chủ hồ,... để triển khai thực hiện ngay sau khi được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm đưa quy định nhanh chóng vào đời sống.

Việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa là vấn đề mới và hết sức phức tạp. Bên cạnh những vấn đề về thông tin, số liệu phục vụ xây dựng quy trình, khó khăn lớn nhất hiện nay là để đáp ứng các yêu cầu về phòng, chống, giảm lũ, điều tiết cấp nước cho hạ du thì phải điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ của các hồ chứa, thay đổi thứ tự ưu tiên vận hành trong cả mùa lũ và mùa cạn. Ví dụ như những yêu cầu về giảm lũ cho hạ du, bảo đảm yêu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du được đặt lên trên việc bảo đảm nhiệm vụ phát điện. Để thay đổi được nguyên tắc, thứ tự ưu tiên này, cần rất nhiều thời gian và công sức và phải giải quyết được hài hòa các lợi ích của các bên liên quan nhằm tạo sự đồng thuận cao, vì phần lớn các hồ chứa đã được xây dựng từ trước, khi tính toán đầu tư, phê duyệt xây dựng công trình không xem xét, tính toán đến việc các hồ phải có nhiệm vụ dành dung tích phòng lũ, tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du. Bên cạnh đó, với những đặc điểm về nguồn nước, vấn đề đảm bảo nước cấp cho hạ du trong thời gian các hồ không tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du.

Lưu vực sông Hồng
Lưu vực sông Hồng

Vì vậy, để bảo đảm sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương và các bên liên quan trong suốt quá trình xây dựng các phương án phối hợp vận hành, bảo đảm chất lượng quy trình, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng, các địa phương, các chuyên gia cùng Tổ soạn thảo tập trung nghiên cứu, phân tích các đặc điểm cụ thể của từng lưu vực sông, tình hình thông tin, số liệu quan trắc khí tượng, thủy văn, mưa lũ trên các lưu vực, các yêu cầu về phòng, giảm lũ cho hạ du và nghiên cứu, tính toán các phương án phối hợp vận hành giảm lũ cho hạ du dựa trên các nguyên tắc bảo đảm hài hòa giữa tham gia phòng, chống lũ với phát điện, tính thống nhất theo lưu vực sông, sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu nguồn nước và các yêu cầu trong khai thác, sử dụng nước của các hồ chứa, cả thủy điện và thủy lợi như bảo đảm dòng chảy tối thiểu, phòng, chống lũ, lụt, hán hán nhân tạo,... quy định trong Luật tài nguyên nước, đều được cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng.

Với nguyên tắc ưu tiên hàng đầu trong mùa lũ là đảm bảo chống lũ cho hạ du (lưu vực sông Hồng và sông Mã) và góp phần cắt, giảm lũ cho hạ du (lưu vực sông Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba, Sê San, SrêPôk và sông Đồng Nai), các quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông trong mùa lũ hàng năm đã quy định cụ thể: chế độ vận hành, cơ chế phối hợp giữa các hồ, giữa các địa phương và trách nhiệm của địa phương, của các Bộ, ngành trong việc chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy trình của các chủ hồ, các cơ quan có liên quan.

Qua việc tổ chức các Hội nghị công bố, các địa phương trên các lưu vực sông đã nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng của Quy trình vận hành liên hồ chứa và sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, các địa phương trong lưu vực và các đơn vị quản lý, vận hành hồ. Đặc biệt là trách nhiệm của Trưởng ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh trong việc điều hành các hồ chứa tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du.

Sau khi 11 Quy trình được ban hành, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ TN&MT, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ TN&MT) đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Sê San và một số lưu vực sông khác, đồng thời có văn bản gửi các địa phương thống nhất phương án vận hành hồ để điều tiết nguồn nước cũng như các văn bản đôn đốc, chỉ đạo điều hành để đảm bảo đủ nguồn nước cấp cho hạ du các hồ chứa trên các lưu vực sông trong suốt thời gian của mùa cạn.

Riêng trong năm 2016, Cục đã phối hợp với Thanh tra Bộ kiểm tra quy trình vận hành hồ chứa tại miền Trung - Tây Nguyên. Kiểm tra đột xuất việc thực hiện quy trình vận hành liên hồ chứa đối với công trình thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn, Sê San, SrePok, sông Ba và một số lưu vực sông khác. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông Cả, sông Mã, sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Trà Khúc, sông Kôn - Hà Thanh và sông Hương. Kết quả kiểm tra cho thấy, về cơ bản các hồ chứa đã vận hành tuân thủ tương đối chặt chẽ các quy định về lưu lượng, thời gian xả nước. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của hạn hán năm 2015, nên một số hồ đã phải giảm lưu lượng xả xuống hạ du để đảm bảo cân đối, có nước cấp cho hạ du các hồ chứa trong cả mùa cạn, dẫn đến một số hồ chứa chưa đảm bảo được yêu cầu về lưu lượng và thời gian xả như quy định của Quy trình.

Để khắc phục những bất cập trên đây, ngoài việc thành lập các đoàn thanh tra trực tiếp, để giám sát việc thực hiện Quy trình, hàng ngày Cục yêu cầu các đơn vị vận hành hồ cung cấp toàn bộ thông tin, số liệu vận hành hồ cập nhật lên chuyên trang https://quanly.dwrm.gov.vn/hochua/#/login. Qua đây, Cục có thể nắm bắt kịp thời được tình hình xả nước của từng hồ để quản lý và có giải pháp chỉ đạo kịp thời.

Trong thời gian tới, Cục Quản lý tài nguyên nước sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương rà soát, đánh giá lại các quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa để rà soát, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế nguồn nước, khai thác, sử dụng cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu đang ngày càng rõ rệt lên tài nguyên nước như hiện nay./.

Thanh Tâm – Trang Phương

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.