Kỳ vọng một quy hoạch vì sự phát triển bền vững biển, đảo

Thứ Năm, 01/09/2016, 15:52 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ TN&MT) vừa tổ chức lấy ý kiến đóng góp của 28 tỉnh, thành có biển và các Bộ, ngành Trung ương, địa phương vào Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam đến năm 2035 và kế hoạch thực hiện 2017 - 2025.

Đây là một quy hoạch được kỳ vọng sẽ trở thành “nhạc trưởng” điều phối hoạt động phát triển bền vững KT - XH biển, đảo Việt Nam theo định hướng quản lý tổng hợp TN&MT biển, hải đảo. Vì mức độ mới, khó và đặt nhiều mong muốn vào quy hoạch này, nên sau 4 năm thực hiện, công tác chuẩn bị, đến nay, quy hoạch mới được “trình làng” với những đề xuất quy hoạch khá cụ thể, chi tiết.

Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam sẽ có vị trí xứng đáng và hoàn thiện. Ảnh: Hoàng Minh
Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam sẽ có vị trí xứng đáng và hoàn thiện. Ảnh: Hoàng Minh

Một loại quy hoạch lần đầu tiên có!

Khác với các loại quy hoạch khác, Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam là loại quy hoạch định hướng, tập trung vào đối tượng chung là TN&MT biển, chú trọng đến giá trị của các hệ sinh thái biển và sự hợp lý về nhu cầu khai thác, sử dụng biển của các ngành. Hầu hết các vùng đều là vùng sử dụng đa mục tiêu, song với các mức độ ưu tiên khác nhau đối với mỗi loại hình hoạt động. Theo cách tiếp cận này, Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam được xây dựng dựa theo Điều 44 của Luật Biển Việt Nam, Luật TNMT biển và hải đảo Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan khác sẽ dựa trên 3 nhóm tiêu chí chính để phân các vùng biển, bao gồm: Nhóm tiêu chí về bảo vệ, bảo tồn: có các sinh cảnh, hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, rong biển, bãi triều, cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh, đảo, cùng với các khu bảo tồn biển, khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia, có giá trị tự nhiên, sinh thái và đa dạng sinh học; Nhóm tiêu chí về phát triển kinh tế: có ưu thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và vị thế để phát triển các ngành kinh tế biển như dịch vụ cảng, đường thủy, du lịch, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, phát triển năng lượng, công nghiệp ven bờ,…; Nhóm tiêu chí về quốc phòng, an ninh: có vị trí chiến lược và nhu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh, an toàn trên biển.

Quy hoạch sử dụng biển (hay quy hoạch không gian biển) là một công cụ mới trong quản lý biển; do vậy, để xây dựng quy hoạch này, các nhà quản lý, khoa học đã dày công tìm hiểu, học hỏi quy hoạch thuộc loại này từ các nước trong khu vực và thế giới. Và một số phương pháp của quốc tế đã được đề xuất, lần đầu áp  dụng vào điều kiện Việt Nam. Các phương pháp chính được sử dụng phục vụ Quy hoạch bao gồm: Phân vùng chức năng biển, theo giá trị sinh thái, tài nguyên và nhu cầu sử dụng bảo vệ, bảo tồn các vùng biển; Phân tích mâu thuẫn (giữa bảo tồn và phát triển và giữa các loại hình phát triển với nhau) bằng cách chồng chập bản đồ và lập ma trận mâu thuẫn; Phân tích thể chế quản lý biển, bao gồm chính sách, pháp luật, quy định sử dụng và việc tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng biển của các bộ, ngành, địa phương có biển; Xử lý các vùng chồng lấn trong quy hoạch phát triển các ngành kinh tế biển và quy hoạch bảo vệ, bảo tồn tài nguyên, môi trường biển bằng cách chồng chập bản đồ và sắp xếp mức độ ưu tiên đối với các loại vùng.

Điều phối vùng phát triển, tránh mâu thuẫn

Với chức năng và vị trí rất đặc biệt của Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam nên Quy hoạch này sẽ được xây dựng dựa trên các phân tích đánh giá về điều kiện, tự nhiên, môi trường, sinh thái biển, định hướng chính sách và các hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý biển, bối cảnh khu vực và thế giới và các kinh nghiệm của thế giới trong quy hoạch sử dụng biển. Đây không chỉ là một quy hoạch dựa trên tổng hợp, phân tích đánh giá của tất cả các ngành kinh tế có liên quan đến biển, khu vực biển, mà còn dựa vào những đặc điểm tự nhiên vùng để đề xuất việc điều phối phát triển hoặc hạn chế một loại hoạt động kinh tế, xã hội nào đó.

Chính vì vậy, quy hoạch này sẽ tác động và liên quan đến những loại văn bản pháp luật quản lý, sử dụng biển Việt Nam ở một số phạm vi cụ thể như: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của các tỉnh, thành phố có biển; Quy hoạch các ngành kinh tế biển (du lịch, thủy sản, dầu khí, hàng hải), Quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam; Quy hoạch khu bảo tồn biển, quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học; Định hướng quốc phòng, an ninh trên Biển Đông.

Trên cơ sở phân vùng, đồng thời, theo giá trị tài nguyên, sinh thái và nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu thiết lập các vùng quốc phòng, an ninh trên biển và việc xử lý các vùng chồng lấn bằng cách xác định mức độ ưu tiên của các hoạt động sử dụng biển: quốc phòng an ninh; bảo tồn tự nhiên; bảo vệ sinh cảnh; phát triển du lịch; khai thác dầu khí; đánh bắt, nuôi trồng hải sản và các hoạt động khác, biển Việt Nam được đề xuất quy hoạch thành 6 loại vùng, bao gồm: Vùng sử dụng đặc biệt; Vùng ven bờ chú trọng bảo tồn và phát triển mạnh kinh tế tổng hợp; Vùng ven bờ phát triển kinh tế tổng hợp kết hợp bảo tồn; Vùng ưu tiên khai thác dầu khí; Vùng ưu tiên khai thác hải sản; Vùng cho các hoạt động sử dụng khác. Mỗi loại vùng được định nghĩa, có tiêu chí phân loại, chính sách sử dụng với các hoạt động được phép, không được phép và hạn chế các loại hoạt động khai thác, phát triển KT - XH khác nhau để đạt mục tiêu tới năm 2025, giảm thiểu mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian vùng bờ, góp phần bảo vệ môi trường, làm cơ sở để các Sở, ban, ngành, địa phương có biển điều chính các quy hoạch, kế hoạch liên quan.

Sử dụng hợp lý các vùng sử dụng đặc biệt, phục vụ quốc phòng, an ninh trên biển, đồng thời, hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế biển và bảo vệ TN&MT biển. Góp phần tăng cường công tác bảo tồn, bảo vệ biển Việt Nam, nhằm duy trì chức năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ sinh thái của biển. Đặc biệt, có được quy hoạch phát triển các ngành kinh tế biển phù hợp, hài hòa giữa các ngành và đáp ứng nhu cầu bảo vệ giá trị sinh thái, môi trường biển.

Để làm được điều này, rất nhiều ý kiến của các chuyên gia, các bộ, ngành cho rằng, cần thiết phải thiết lập và đẩy mạnh cơ chế điều phối đa ngành trong quản lý biển, đảo được thiết lập và hoạt động có hiệu quả ở cấp Trung ương và địa phương ở các tỉnh, thành phố có biển. Đồng thời cũng phải xây dựng được cơ chế phối hợp liên ngành hỗ trợ hoạt động cấp phép, giám sát và chế tài xử lý vi phạm trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển được thiết lập và hoạt động có hiệu quả. Đặc biệt là phải có Hệ thống kiểm soát và xử lý sự cố môi trường biển quốc gia được thiết lập và hoạt động hiệu quả. Tin rằng, với sự đóng góp sát thực của các địa phương, cơ quan Trung ương và sự đồng thuận vì mục đích phát triển bền vững kinh tế biển, đảo, Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam sẽ có vị trí xứng đáng và hoàn thiện, thực thi trong thời gian gần nhất.

Kim Liên

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.