Siết chặt hoạt động nhận chìm chất thải trên biển

Thứ Ba, 16/08/2016, 17:41 (GMT+7)
.
(TN&MT) - Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016, theo đó, hàng loạt các quy định quan trọng về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển lần đầu tiên được đưa vào Luật để giám sát và thực thi. Đặc biệt hoạt động nhận chìm chất thải trên biển từ nay phải được Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chấp thuận cấp phép và chỉ được nhận chìm ở một số khu vực nhất định cũng như một số các loại chất thải được quy định nhằm bảo vệ tối đa môi trường biển.
 
Đủ điều kiện mới được cấp phép
 
Ngay khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Việt Nam có hiệu lực, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã trình Bộ TN&MT, trình Chính phủ ban hành  Nghị định số 40/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong đó, đề cập rõ ràng, chi tiết các tổ chức cá nhân nào đủ điều kiện mới được cấp phép nhận chìm ở biển. Điều 49 trong Nghị định nêu rõ 
Tổ chức, cá nhân được xem xét cấp Giấy phép nhận chìm ở biển khi đáp ứng đủ các Điều kiện sau: Vật, chất được phép nhận chìm đáp ứng các Điều kiện quy định tại Khoản 1, Điều 58, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Có phương án nhận chìm bảo đảm yêu cầu quy định tại Khoản 4, Điều 57, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; Khu vực biển đề nghị được sử dụng để nhận chìm phù hợp với quy hoạch sử dụng biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
 
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chấp thuận cấp phép và chỉ được nhận chìm chất thải trên biển ở một số khu vực nhất định. Ảnh: MH
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chấp thuận cấp phép và chỉ được nhận chìm chất thải trên biển ở một số khu vực nhất định. Ảnh: MH
 
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, khu vực biển đề nghị được nhận chìm được xem xét trên cơ sở báo cáo đánh giá tác động môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
 
Giấy phép nhận chìm ở biển bao gồm các nội dung quy định tại Khoản 1, Điều 59, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, được lập theo Mẫu số 11 quy định tại Phụ lục của Nghị định này. Không được cấp Giấy phép nhận chìm trong phạm vi khu vực biển đang có tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp để khai thác, sử dụng tài nguyên biển; khu vực cấm, tạm thời cấm, hạn chế hoạt động.
 
Hồ sơ được thẩm định cẩn trọng 
 
Nghị định cũng hướng dẫn chi tiết việc lập Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, trả lại Giấy phép nhận chìm ở biển để các tổ chức, cá nhân có nhu cầu có thể dễ dàng thực hiện, trong đó, cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; Sở TN&MT là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung trả lại Giấy phép nhận chìm ở biển thuộc thẩm quyền cấp của UBND tỉnh có biển.
 
Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, trả lại Giấy phép nhận chìm ở biển được nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Việc trả kết quả giải quyết hồ sơ được thực hiện trực tiếp tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ hoặc qua đường bưu điện theo quy định của pháp luật.
Trường hợp hồ sơ gửi qua đường bưu điện, ngày nhận hồ sơ là ngày bưu điện chuyển cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ; Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra thành phần, nội dung của hồ sơ. Trường hợp hồ sơ theo đúng quy định, trong thời hạn không quá 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ ban hành văn bản tiếp nhận và hẹn giải quyết hồ sơ được lập theo Mẫu số 1 kèm theo của Nghị định này. Trường hợp hồ sơ chưa đúng quy định, trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm hướng dẫn một lần bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
 
Trong thời hạn không quá 60 ngày đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép nhận chìm ở biển; không quá 45 ngày đối với hồ sơ đề nghị gia hạn, trả lại Giấy phép nhận chìm ở biển; không quá 30 ngày đối với hồ sơ đề nghị sửa đổi, bổ sung Giấy phép nhận chìm ở biển và không quá 15 ngày đối với hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy phép nhận chìm ở biển kể từ ngày ra văn bản tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm:
 
Trường hợp cần thiết, cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi văn bản lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan, tổ chức kiểm tra thực địa (thời gian lấy ý kiến, kiểm tra thực địa không tính vào thời gian thẩm định). Trong thời hạn không quá 20 ngày kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến, cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về các vấn đề liên quan.
 
Thu hồi Giấy phép nếu không thực hiện đúng cam kết
 
Việc quản lý Giấy phép nhận chìm các chất trên biển cũng được quy định chặt chẽ, rõ ràng và kiên quyết thu hồi khi tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, đặc biệt là không tuân thủ khu vực và chất cam kết nhận chìm trên biển.
 
Có 8 loại chất được quy định được nhận chìm trên biển đó là: Chất nạo vét; Bùn thải; Các chất thải từ thủy sản hoặc các chất thải phát sinh từ hoạt động chế biến thủy sản; Tàu thuyền, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo ở biển; Các chất địa chất trơ và chất vô cơ; Các chất hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên; Các vật thể lớn được tạo thành chủ yếu từ sắt, thép, bê-tông và các chất tương tự không độc hại mà trong Điều kiện, hoàn cảnh cụ thể không có cách xử lý nào tốt hơn là nhận chìm; Carbon dioxide (CO2) được thu và lưu trữ. Ngoài ra, các loại chất khác không được cấp phép nhận chìm trên biển.
 
Đồng thời, Nghị định 40 cũng quy định Giấy phép nhận chìm ở biển bị thu hồi trong các trường hợp cụ thể sau đây: Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển lợi dụng hoạt động nhận chìm gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia; làm phương hại đến trật tự, an toàn trên biển; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên hợp pháp ở biển của tổ chức, cá nhân khác; Tiến hành nhận chìm không đúng nội dung của Giấy phép nhận chìm ở biển gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài nguyên, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, hệ sinh thái biển; lợi dụng việc nhận chìm để sử dụng khu vực biển vào Mục đích khác; Sau 3 (ba) tháng, kể từ thời Điểm được phép nhận chìm quy định trong Giấy phép nhận chìm ở biển mà tổ chức, cá nhân không tiến hành hoạt động nhận chìm, trừ trường hợp bất khả kháng; Khu vực biển đã được cấp Giấy phép nhận chìm được sử dụng để phục vụ Mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia theo quy định của pháp luật hoặc được cấp có thẩm quyền công bố là khu vực cấm; Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển bị giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật.
 
Minh Thư
 
 
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.