Tổng cục Môi trường thống kê 1.380 nguồn thải lưu vực sông Cầu

Thứ Hai, 14/11/2016, 13:07 (GMT+7)
.
(TN&MT) - Năm 2016, Tổng cục đã tiến hành điều tra đánh giá được 1380 nguồn thải trên lưu vực sông Cầu.
 
Nhằm kiểm soát chặt các nguồn thải để quản lý môi trường tốt hơn, hàng năm Tổng cục Môi trường luôn cập nhật thông tin đánh giá các nguồn thải. Năm 2016, Tổng cục đã đánh giá được 1.380 nguồn thải trên lưu vực sông Cầu.
 
Theo báo cáo của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, đến năm 2016 trên địa bàn lưu vực có 48 khu công nghiệp, 84 cụm công nghiệp, 141 làng nghề, 246 cơ sở y tế và hơn 3.500 doanh nghiệp Nhà nước, cơ sở tư nhân hoạt động ở hầu hết loại hình công nghiệp, thủ công nghiệp. 
 
Nước thải tại một doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Ninh gây ô nhiễm
Nước thải tại một doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Ninh gây ô nhiễm

Nước thải xả ra chủ yếu từ các hoat động sản xuất kinh doanh, khu, cụm công nghiệp, làng nghề và nước thải y tế. Nước thải sản xuất kinh doanh chiếm hơn 68% toàn vùng. Nước thải khu công nghiệp hơn 6%, nước thải làng nghề khoảng 24% và 0,64% là nước thải y tế.

Tính đến tháng 11/2016, Tổng cục Môi trường đã đánh giá được 1380 nguồn thải trên lưu vực sông Cầu với trên 2000 phiếu điều tra. Khoảng 90 nguồn gây ô nhiễm môi trường trọng điểm với tổng lượng nước thải hơn 180 nghìn m3/ngày đêm.
 
Tỉnh Bắc Ninh có số lượng nguồn gây ô nhiễm nhiều nhất (20 nguồn). Trong khi đó, tỉnh Bắc Kạn có số lượng nguồn thải ít nhất (10 nguồn). Bắc Kạn cũng là tỉnh có tổng lượng nước thải từ các nguồn gây ô nhiễm trọng điểm ít nhất (449 m3/ngày đêm). 

Bắc Giang có tổng lượng nước thải nhiều nhất (hơn 73 nghìn m3/ngày đêm). Riêng Công ty TNHH MTV Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, tổng lượng nước thải hơn 70 nghìn m3/ngày (chiếm hơn 38% tổng lượng nước thải của toàn bộ nguồn gây ô nhiễm trên lưu vực sông).

Theo đánh giá hầu hết nguồn thải vẫn chưa được xử lý trước khi xả ra môi trường, đặc biệt là nguồn nước thải công nghiệp, làng nghề và nước thải sinh hoạt. Đây cũng là một trong những tác nhân chính gây suy giảm chất lượng môi trường nước mặt trên lưu vực sông Cầu.  
 
Hàng năm, cơ sở dữ liệu nguồn thải lưu vực sông vẫn được các địa phương và Bộ TN&MT tiếp tục điều tra, cập nhật, bổ sung. Trung bình mỗi năm cập nhật bổ sung khoảng 300 nguồn thải, trong đó bao gồm các nguồn thải trọng điểm.
 
Bộ TN&MT đã xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu môi trường, quy chế quản lý, chia sẻ thông tin, dữ liệu môi trường lưu vực sông Cầu trên Cổng thông tin điện tử và hệ thống thông tin giám sát môi trường nước sông Cầu thông qua Internet với tên miền http://lvscau.cem.gov.vn. Cơ chế hoạt động của Cổng thông tin do Chủ tịch Ủy ban bảo vệ sông Cầu ban hành. Tuy nhiên, đến nay quy chế hoạt động vẫn chưa được trình thông qua.
 
Ông Nguyễn Tử Quỳnh, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu cho rằng: Các tỉnh trên lưu vực sông đều đã thống kê, điều tra nguồn thải lỏng xả thải trực tiếp ra môi trường. Tuy nhiên, công tác này không thường xuyên hàng năm do ngân sách hạn hẹp. Cách thức thống kê, điều tra nguồn thải lỏng, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn thải và lập bản đồ nguồn ô nhiễm trên mỗi địa phương khác nhau dẫn đến việc tổng hợp và đánh giá trên toàn lưu vực gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, vẫn chưa hình thành được hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin, cập nhật được thường xuyên, liên tục.
 
“Hệ thống quan trắc, phân tích và cơ sở thông tin dữ liệu được hoàn thiện từ Trung ương đến địa phương. Công tác điều tra, thống kê nguồn thải đang được triển khai đồng bộ ở hầu hết các tỉnh. Số liệu vị trí, lưu lượng thải, tính chất nước thải của các nguồn thải đã được đưa vào cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, các số liệu này chưa thống nhất, chưa được cập nhật vào hệ thống thông tin của địa phương và toàn lưu vực để quản lý.” – Ông Quỳnh cho biết.
 
Năm 2017, Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu sẽ tiếp tục tăng cường hệ thống quan trắc, nhất là hệ thống quan trắc tự động và giám sát môi trường trên toàn lưu vực. Đồng thời, Ủy ban cũng sẽ xây dựng, ban hành định mức kỹ thuật quan trắc môi trường đối với nước thải sinh hoạt và sản xuất.
 
Nguyễn Cường
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.