Sơn La: Hiệu quả từ mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI thích ứng BĐKH

Thứ Sáu, 19/05/2017, 13:32 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Được triển khai từ năm 2013 tới nay, mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã cho thấy những hiệu quả tích cực.

Ông Đinh Văn Khoa, Trưởng bản Cang, xã Quang Huy phấn khởi: Từ khi triển khai theo mô hình canh tác SRI, toàn bản không còn tình trạng thiếu đói giáp hạt.
Ông Đinh Văn Khoa, Trưởng bản Cang, xã Quang Huy phấn khởi: Từ khi triển khai theo mô hình canh tác SRI, toàn bản không còn tình trạng thiếu đói giáp hạt.

Tăng năng suất và bảo vệ môi trường

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi tới thăm xã Quang Huy, huyện Phù Yên là những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn trải rộng khắp tầm mắt. Dẫn chúng tôi đi thăm cánh đồng lúa của mình, ông Đinh Văn Khoa, Trưởng bản Cang, xã Quang Huy giới thiệu: Bản Cang hiện có hơn 11ha lúa, của 99 hộ dân, thì đều đang gieo cấy giống lúa chất lượng cao BC 15 từ năm 2013 tới nay. Từ ngày được chuyển giao kỹ thuật canh tác mới, năng suất tăng cao rõ rệt, bà con phấn khởi lắm. Năng suất giờ đạt 7-8 tấn/ha, gấp nhiều lần so với trước. Bà con lại tiết kiệm được thuốc trừ cỏ, trừ sâu, góp phần bảo vệ môi trường. Cuộc sống nhờ đó cũng ổn định hơn, thời điểm giáp hạt, người dân không còn cảnh thiếu đói, phải đi vay, mượn thóc, gạo như trước.

Hộ gia đình ông Lò Văn Tới, bản Cang, có 2.000m2 trồng lúa, năng suất thu được năm 2016 tăng 20-30% so với trước. Ông Lò Văn Tới chia sẻ: Trước đây, người dân chúng tôi chủ yếu canh tác gieo vãi, hạt thóc rơi vãi nhiều, năng suất không đảm bảo. Giờ thì vui rồi, được chuyển giao phương pháp cấy mới, thấy hiệu quả rõ rệt.

Cánh đồng lúa BC 15 cấy theo phương pháp cải tiến SRI, tại bản Cang, xã Quang Huy, huyện Phù Yên.
Cánh đồng lúa BC 15 cấy theo phương pháp cải tiến SRI, tại bản Cang, xã Quang Huy, huyện Phù Yên.

Ông Cầm Văn An, Phó Chủ tịch UBND xã Quang Huy cho biết: Xã Quang Huy có 22 bản với 5 dân tộc anh em cùng chung sống, chủ yếu là người Thái và Mường. Trước đây, người dân trồng lúa không có phương pháp và chưa được cải tiến về kỹ thuật, chỉ gieo vãi đại trà, cây lúa phát triển không đều, nhiều sâu bệnh, cỏ dại mọc nhiều, người dân phải phun thuốc trừ cỏ, trừ sâu. Năm 2013, xã Quang Huy được lựa chọn triển khai trình diễn mô hình lúa theo phương pháp SRI, đã khắc phục được những hạn chế trên 100%. Đặc biệt, người dân ý thức được phương pháp cấy này cho năng suất cao hơn, ít sâu bệnh hơn, không phải dùng thuốc trừ cỏ. Từ đó, góp phần bảo vệ môi trường, thích  ứng BĐKH. Ăn cơm từ cây lúa giờ cũng yên tâm hơn. Bà con rất ủng hộ.

Tiếp tục nhân rộng mô hình trên toàn tỉnh

Phù Yên là huyện có diện tích canh tác lúa nước hàng năm trên 4.400ha, lớn hàng đầu của tỉnh Sơn La và là “một trong bốn” vựa lúa nước lớn nhất của vùng Tây Bắc. Phát triển sản xuất lúa ruộng 2 vụ của huyện Phù Yên theo định hướng tăng nhanh sản lượng và nâng cao chất lượng là yêu cầu tất yếu. Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và đầu tư thâm canh trong canh tác lúa là vấn đề cấp thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, biến đổi khí hậu đang là mối đe dọa với sự phát triển môi trường sinh thái và an ninh lương thực bền vững.

Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification) là phương pháp canh tác lúa sinh thái và hiệu quả. Ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI là một trong những phương pháp sản xuất phù hợp nhất nhằm giúp người nông dân chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, vừa làm tăng hiệu quả canh tác lúa và bảo vệ tốt môi trường. Mục tiêu chính của ứng dụng phương pháp SRI là nhằm phát triển hệ thống sản xuất lúa bền vững bao gồm: Cấy mạ non, cấy thưa, cấy 1 dảnh, sử dụng phân hữu cơ, quản lý nước và làm cỏ bằng tay, hạn chế thấp nhất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Trên cơ sở đó, ngay từ vụ xuân 2012-2013, UBND huyện Phù Yên đã đưa vào sản xuất trình diễn mô hình canh tác lúa cải tiến SRI với giống lúa chất lượng cao BC 15 trên nền đất lúa 2 vụ tại 2 xã Quang Huy và Huy Bắc, với quy mô 10ha, gồm 86 hộ nông dân tham gia.

Ông Cầm Ngọc Liên, Phó trưởng phòng NN&PTNT huyện Phù Yên đánh giá: Sau khi triển khai, kết quả cho thấy, giảm chi phí về giống, hạn chế cỏ dại, cây lúa khỏe nên tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giảm lượng nước tưới tiêu. Lúa cứng cây, chống đổ tốt, có khả năng chống chịu khá với sâu bệnh hại do đó giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nên thân thiện với môi trường và góp phần bảo vệ sức khỏe con người. Mô hình cho năng suất cao đạt trung bình 75 tạ/ha, chất lượng gạo phù hợp thị hiếu của thị trường, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Chi phí cho 1ha lúa hơn 20,5 triệu đồng, cho thu nhập hơn 52,5 triệu đồng. Từ hiệu quả ban đầu, tới nay, các xã trên địa bàn huyện Phù Yên đều đã chuyển đổi sang canh tác theo mô hình lúa SRI.

Mô hình canh tác lúa nếp cái hoa vàng theo phương pháp SRI tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
Mô hình canh tác lúa nếp cái hoa vàng theo phương pháp SRI tại huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

Được biết, tiếp nối thành công từ huyện Phù Yên, từ vụ xuân 2014 tới nay, tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Sơn La đã bắt đầu triển khai mô hình thâm canh lúa cải tiến theo phương pháp SRI. Chỉ riêng năm 2016, Trung tâm khuyến nông Sơn La đã tổ chức 6 điểm mô hình thâm canh lúa cải tiến theo phương pháp SRI, với 149 hộ nông dân tham gia, trên quy mô 14ha tại 6 huyện, thành phố. Kết quả, trừ các chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động, thu lãi trung bình 36,565 triệu đồng/ha, cao hơn so với mô hình canh tác lúa truyền thống chỉ đạt 15,410 triệu đồng/ha. Đặc biệt, mô hình vừa có hiệu quả kinh tế vừa giảm thiểu biến đổi khí hậu, tăng năng suất cây trồng, giảm giống, phân bón và rất phù hợp với điều kiện sản xuất quy mô lớn tại địa phương.

Trong thời gian tới, để mô hình thâm canh lúa cải tiến theo phương pháp SRI nhanh chóng được nhân ra diện rộng, tỉnh Sơn La đang tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hộ nông dân hiểu được mục đích và lợi ích lâu dài khi áp dụng biện pháp cấy mạ non, cấy nông tay, thẳng hàng, cấy một dảnh, điều tiết nước. Đồng thời kịp thời nắm bắt những nhu cầu, nguyện vọng của người nông dân, để từ đó đưa ra các giải pháp khuyến khích áp dụng đồng bộ quy trình tiến bộ khoa học mới, hướng tới sự phát triển bền vững.

Nguyễn Nga

 

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.