Chống chếnh Tam Giang

Thứ Bảy, 28/01/2017, 21:43 (GMT+7)
.

 

 

(TN&MT) - “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới/Nước bao vây cách biển nửa ngày sông/Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng/Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”. Tôi nhớ cảnh ấy, người ấy ở cái vùng đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên - Huế), sao mà giống Quê hương của cụ Tế Hanh thế. Giờ, chuyện xưa đã xưa, vật đổi sao dời, hơn mấy thập niên qua, cái còn sót lại, thương vương sóng lòng...

Ba. Chẳng phải đất trời với lòng người hòa hợp, chẳng phải là sự toàn vẹn để cho, nói dân dã, là mồ yên mả đẹp đó. Với một kiếp con người, âu đó cũng nghĩa lớn. Không phải ngẫu nhiên tôi mở đầu câu chuyện về những cồn cát phá Tam Giang bằng hình ảnh nấm mồ. Nó không giống làng, không giống nghĩa địa, nhưng có người, có nhà cửa và có mồ mả cùng tồn sinh. Mươi năm nay, cuộc sống này đã đeo đẳng, trùm ám lên thị trấn Thuận An, chưa biết khi nào mới dứt!

Dọc ngang, ngang dọc, “đường chạy vòng quanh, một vòng tiều tụy”. Cái “vòng tiều tụy” ấy dành cho thế giới dương gian này. Còn, thế giới bên kia thì sang lắm! Bởi, nhà có “của ăn của để” mới xây mộ, xây lăng. Xây càng to càng thể hiện người có vai có vế. Xã hội “âm ti” càng ngày càng lớn, “trần gian” lại càng hẹp đi. Ấy là diện tích. Còn “dương thế” vẫn nảy nở sinh sôi thế và hơn thế. Nay, “người chết” lọt thỏm giữa “người sống”, phình to phình to, người chết đã “đè” lên người sống, người sống như hàng rào vô thực, ôm riết lấy người chết, mỏng manh, qua năm qua tháng.

Việc người chết “lấn” đất người sống, nay chính quyền cũng… “bó tay”. Đất của họ, có tiền thì họ xây, họ xây để tâm linh được thảnh thơi, vì thương ông bà tổ tiên sống khổ cả đời, nay mới có cơ hội báo hiếu. Hơn nữa, nhiều cặp vợ chồng trẻ sau khi cưới xong, nghèo khó lại không có đất ở nên phải “kéo” nhau ra các khu lăng mộ để sinh sống. Đặc biệt, những người nhiều tiền thi nhau xây mộ gió để “xí phần”, xây mộ cho người... chưa chết. Tối nhọ mặt, những bóng người nghiêng ngả lẩn khuất, ẩn hiện sau những ngôi mộ, sau những túp lều gió xé trống hoác, tranh liếp lang bang, ngư dân từ biển về. Xa xa, tiếng quạ rin rít trên gò mối hay bức tường lạnh lẽo. Mưa lây phây.

Chiều đó, gió miên man hút xào xạc lá. Cồn Cư Chánh bồng bềnh như “một cành khô lạc mấy dòng”. Tôi lạc vào cửa biển Hòa Duân. Gọi là cửa biển, nhưng kỳ thực nơi đây đã trở thành bãi tắm hoang sơ, lều quán lác đác.

Hai. “Một vòng cung xanh/Từ nam Bình Thuận đến bắc Nghệ An/Dựa lưng Trường Sơn nhìn ra Biển Đông” ấy, tôi đã từng “quần nát” bàn chân đi trong những chiều ối đỏ. Những vùng đất, xứ sở đi qua. Ở đó, có nạn đói nghèo, thất học, môi trường hoành hành, và ở dải đất nơi phá Tam Giang này cũng không ngoài lệ. Họ dường như có chung những cuộc đời trắc trở, những số phận đòng đưa. Như cái vòng luẩn quẩn, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, lặp đi lặp lại, phải gánh chịu những cảnh ấy, phải mưu sinh bằng những việc ấy, một cuộc đời như mọi cuộc đời.

Giữa những ngày tháng Chạp mưa phùn, nghe kể chuyện về kế tồn sinh ở đầm phá Tam Giang càng nguôi ngoai. Ngoài chòm, chó sủa ong óc. Đôi ba nhà đã lên đèn. Những ngôi mộ và những chái nhà liếp vào nhau. Đường sơn thủy mịt mùng trong sương. Thị trấn yên tĩnh đong đầy cái vỏ bọc ngút ngát cô liêu. Đâu đó, lác đác mớ âm thanh sóng xô vào ghềnh đá.

Mưa tan, sông dài, trời rộng, bến cô liêu một vùng đỏ quạch. Hạnh dẫn tôi vào nhà chị Lan ở mép sông. Gia đình chị Lan định cư vùng này ngót ngét hai mươi mấy năm rồi, ngày ngày, chồng đi biển, vợ trồng trọt canh tác. “Giờ, chồng vẫn đi biển, đặng bữa đực bữa cái, còn tui thì thất nghiệp, chỉ ngồi trông con thôi. Cả xóm ni bị “kẹp” giữa lăng mộ, đất làm sân cũng không có, nói chi đất trồng cây, cấy hái”, chị Lan nói. Khuôn mặt nhầu nhĩ khuất trong mớ tóc rối bù, từng ngón tay sù sì, đen sạm cứ bới bới lên cái đầu cũng rối bù của đứa con gái, ngày lại ngày, chị không biết làm gì hơn, đứa bé ngồi trong lòng mẹ thả đôi mắt tha thẩn vào không gian tím thẫm.

Trưa hôm sau, chang chang nắng. Lâu lắm, thị trấn mới có nắng, nắng trong mưa bụi. Bên những lăng mộ lô nhô, vài đứa trẻ tóc vàng tựa lông bò, không quần, áo cũn cỡn quăn tít đến nách đương chơi trò ú tim. Khuôn viên tâm linh ấy là nơi chúng nô đùa từ nhỏ, như tuổi thơ của cha mẹ chúng cũng từng trôi qua thế. “Những đứa bé ở Thuận An này đều có mùi đặc trưng, nồng nồng, khen khét, vì lâu không tắm! Khổ rứa”, Hạnh buông lời.

Một. Không như những vùng đầm phá khác khi mà những đứa trẻ vừa biết mặt chữ đã phải bỏ dở việc học do cái nghèo và bị cuốn theo cái nghiệp chài lưới lênh đênh, người Thuận An đã gửi lại cho con cái những giấc mơ tươi sáng cả khát vọng làm chủ cuộc đời. Bất chợt trong từng câu chuyện Hạnh kể, xen lẫn trong chuyện cơm áo, đâu đó tôi đã nghe người ta bàn luận, hỏi thăm nhau “con gái mi tuần ni về không?”, “con chú năm ni thi khối D à?”, “nhà nớ ngó rứa mà con học giỏi”...

Dĩ nhiên, xóm này vẫn có cảnh rượu chè, cảnh sinh nở vô tư như cỏ cây rồi chật vật lo cái ăn cái mặc, nhưng sự ham học của lũ trẻ giúp người ta lạc quan hơn. Ngoài kia, phong thanh hoẵng tắc, gió rít liên hồi, những người cha, người mẹ ở Thuận An vẫn tự hào về thế hệ kế tiếp: “Không biết răng tụi hắn mê học, tự chỉ bảo cho nhau chứ người lớn ai cũng ít chữ. Nghe bảo học ra cũng khó xin việc, nhưng cứ cho tụi hắn học cho có cái hiểu biết”.

Ban mai lòa nhòa quấn lấy những bóng thuyền cập bến. Đầu làng, Hiếu lui cui đọc sách bên rổ cá cha vừa đem về. Hiếu bẽn lẽn với tôi: “Mẹ nói dù ra răng cũng phải học, không cho em theo cái nghiệp con nước con sóng này nữa, cực lắm”. Tôi thầm nghĩ, rồi mai này, cuộc đời các em sẽ bay cao. Sẽ không có những đứa trẻ ở đây phải thất học, lớn lên trong những ngày nắng nhặt rác cào ngao ven biển Thuận An, chỉ có cát trắng và hoa long chong bay mù trời nữa…

Bài & ảnh: Xuân Lam

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.