Phát triển Bộ chỉ số đô thị chống chịu BĐKH

Thứ Năm, 22/12/2016, 10:51 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Với quá trình tăng trưởng nóng và đô thị hóa nhanh, các đô thị Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu (BĐKH). Một số thành phố tăng cường sức chống chịu bằng cách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ lụt và các chương trình chuẩn bị phòng chống thiên tai, trong khi còn nhiều thành phố vẫn chưa hoặc có rất ít hành động.

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, năm 1999, cả nước chỉ có 629 đô thị, đến cuối năm 2015 đã có khoảng 787 đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 23,7% năm 1999 lên 35,7% năm 2015. Tính trung bình, cứ 1 tháng nước ta có thêm 1 đô thị. Dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa sẽ tăng lên 50%. Đó là chưa kể đến các khu vực phụ cận, phát triển gắn liền với đô thị nên rất dễ chịu ảnh hưởng từ các hoạt động đô thị.

Phố cổ Hội An ngập lụt sau mưa lớn. Ảnh: MH
Phố cổ Hội An ngập lụt sau mưa lớn. Ảnh: MH

Biểu hiện của BĐKH những năm gần đây ngày càng có nhiều diễn biến bất thường, tác động mạnh đến khu vực đô thị và buộc chính quyền các cấp phải có giải pháp. Tuy vậy, theo Tiến sĩ Michael Digregorio, Trưởng đại diện Quỹ Châu Á tại Việt Nam: Dù đã có hay chưa quan tâm giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương, các địa phương đều đang thiếu công cụ để đánh giá một cách hệ thống các rủi ro và công tác chuẩn bị ứng phó. Đặc biệt là đánh giá khả năng của các thành phố (đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng, thể chế) để tồn tại, thích nghi và phát triển trước những áp lực thường xuyên và những “cú sốc” bất ngờ về thiên tai, môi trường.

Để hỗ trợ các cơ quan chính quyền ở Trung ương và địa phương xác định những điều chỉnh cần thiết, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, Bộ Xây dựng đã triển khai thí điểm Bộ chỉ số đô thị chống chịu với BĐKH (VN-CRI) tại 5 thành phố trên cả nước gồm: TP. Lào Cai (Lào Cai), TP. Cẩm Phả (Quảng Ninh), TP. Hội An (Quảng Nam), thị xã Gia Nghĩa (Đăk Nông), TP. Cà Mau (Cà Mau). Nhìn chung từ số liệu VN-CRI thu thập được, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại các đô thị này chưa cao. Trong số 4 khía cạnh tổng quát mà Bộ chỉ số đề cập tới (sức khỏe và phúc lợi, kinh tế xã hội, hạ tầng và môi trường, lãnh đạo và chiến lược), các đô thị mới đang tập trung vào các mục tiêu về kinh tế xã hội, còn lại, các chỉ số đều ở mức thấp.

Hầu hết sinh kế của người dân tại các đô thị này, dù là sản xuất hay thương mại, dịch vụ đều dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như dịch bệnh, thời tiết, thị trường. Khi có “cú sốc” xảy ra, nền kinh tế thường chịu thiệt hại lớn, khó khăn trong tạo việc làm mới, đồng thời, chưa có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các ngành nghề kinh tế dễ bị tổn thương. Khó khăn chung mà các đô thị gặp phải là thiếu nguồn lực và cơ chế phân bổ nguồn lực cho các hoạt động giảm thiểu rủi ro thiên tai vừa ứng phó với các sự cố. Các quy định về hạ tầng và xây dựng để giảm thiểu rủi ro trước các biến cố chưa được thực thi và giám sát hiệu quả.

Theo TS. Trần Văn Giải Phóng, Viện Nghiên cứu chuyển đổi Môi trường và xã hội, vấn đề nan giải hiện nay đối với khu vực đô thị là việc bảo vệ và duy trì các hệ sinh thái trước tác động của quá trình đô thị hóa. Trong khi đây chính là những “tuyến phòng vệ” của đô thị. Nhiều nơi để xảy ra tình trạng mất rừng, phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất bất hợp pháp, hệ thống sông ngòi, hồ điều hòa ngày càng bị xâm lấn…

Một trong những tồn tại phổ biến ở đa số các địa phương là hoạt động phát triển không theo đúng kế hoạch, quy hoạch đã đề ra, triển khai chậm tiến độ, thiếu kinh phí, bị cản trợ bởi các loại hình thiên tai. Một số đô thị như TP. Cẩm Phả đã có kế hoạch thích ứng với BĐKH, nhưng chưa hình thành bộ máy tổ chức rõ ràng trong hoạt động ứng phó, chưa có cơ chế giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động và lồng ghép BĐKH vào kế hoạch/quy hoạch phát triển địa phương. Cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong những vấn đề liên vùng như bảo vệ rừng phòng hộ, chống cháy rừng, kiểm soát ô nhiễm, khai khoáng… chưa thực sự hiệu quả…

Trước đây, những vấn đề này đã được chỉ ra nhưng rải rác trong các văn bản báo cáo riêng lẻ của nhiều Bộ, ngành. Vì vậy, việc áp dụng Bộ chỉ số sẽ giúp tổng hợp, phân tích, đánh giá và chỉ ra những hạn chế của mỗi đô thị trong ứng phó với BĐKH. Theo Tiến sỹ Michael Digregorio, các thành phố được lựa chọn thí điểm có những đặc trưng và thuộc các vùng, miền khác nhau. Việc xây dựng Bộ chỉ số cũng sẽ được thực hiện theo nguyên tắc vừa đồng nhất cho các đô thị nhưng cũng có những chỉ số riêng biệt cho thành phố đặc thù.

Từ những kết quả của việc thí điểm, Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) và các đối tác sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Bộ chỉ số, áp dụng nhân rộng tại các đô thị chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cho các đô thị tại Việt Nam, khuyến nghị lồng ghép vào hệ thống văn bản pháp lý để nâng cao nhận thức của lãnh đạo, cán bộ địa phương về lĩnh vực phát triển đô thị ứng phó với BĐKH.

Khánh Ly

 

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.