Phân chia 8 vùng ảnh hưởng của bão trên lãnh thổ Việt Nam

Thứ Hai, 26/12/2016, 21:10 (GMT+7)
.

 

Bộ TN&MT vừa công bố Kết quả phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão và phân vùng gió cho các vùng sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ. 

Kết quả báo cáo này được công bố tại Quyết định 2901/QĐ-BTNMT ngày 16/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo được cập nhật trên cơ sở dữ liệu và các kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất và được phân vùng trên phạm vi toàn quốc. Đặc biệt, việc phân vùng gió mạnh, mưa lớn cho các khu vực ở sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ sẽ giúp cho cơ quan chức năng, các địa phương có thêm những thông tin quan trọng, hữu ích trong công tác chỉ đạo, phòng chống thiên tai.

Bão và áp thấp nhiệt đới là hiện tượng thiên tai nguy hiểm kèm theo đó là gió mạnh, mưa lớn, sóng cao và nước biển dâng. Bão và nước dâng do bão thường gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản trên phạm vi rộng lớn, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội và cuộc sống của cư dân vùng chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới.

Sau cơn bão lịch sử Haiyan năm 2013, Chính phủ đã chỉ đạo Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương xây dựng các phương án ứng phó với siêu bão. Để có cơ sở xây dựng các phương án ứng phó, năm 2014 Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, công bố kết quả bước đầu về phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão cho khu vực ven biển Việt Nam trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu đã thực hiện.

Năm 2015, theo kiến nghị của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện nghiên cứu, cập nhật kết quả phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão và phân vùng gió cho các vùng ở sâu trong đất liền khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao các đơn vị chức năng có liên quan tiến hành nghiên cứu, tính toán và tổng hợp đưa ra báo cáo cập nhật.

Một số điểm mới về phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão cho khu vực ven biển Việt Nam

So với báo cáo phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão cho khu vực ven biển Việt Nam năm 2014, thì kết quả phân vùng bão lần này có nhiều điểm mới về cả số liệu, phương pháp. Khác với báo cáo năm 2014, việc phân vùng bão chỉ thực hiện cho dải ven biển Việt Nam, trong báo cáo cập nhật này việc phân vùng bão được thực hiện trên toàn lãnh thổ, vùng ven biển và đảo ven bờ của Việt Nam. Kết quả là có 8 vùng gồm: 5 vùng ven biển và 3 vùng nằm sâu trong đất liền.

Sự giống nhau so với báo cáo năm 2014 là đều có 5 vùng ảnh hưởng của bão tại khu vực ven biển. Tuy nhiên, do số liệu được cập nhật đầy đủ hơn nên một số thông tin về thời gian bão, tần số bão, ranh giới các vùng đã có một số điều chỉnh và được cập nhật.

Việc phân vùng nước dâng do bão đã bổ sung khu vực ven biển từ Cà Mau đến Kiên Giang.

Phần xác định vận tốc gió bão cực đại và mưa lớn cho các khu vực khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ cũng là một trong những điểm mới của báo cáo này.

Phân chia 8 vùng ảnh hưởng của bão trên lãnh thổ Việt Nam

Toàn lãnh thổ Việt Nam, vùng ven biển và đảo ven bờ được phân thành 8 vùng ảnh hưởng của bão với các đặc trưng cụ thể của các vùng như sau:

Vùng I: Đông Bắc (bao gồm các tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Thải Nguyên, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 70 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Đông Bắc, trung bình từ 1,0 -1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VIII - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 546 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 100 - 150 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 10, giật cấp 12 - 13.

Vùng II: Tây Bắc (bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 26 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Tây Bắc, trung bình dưới 0,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VII - VIH - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 336 ram. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 50 - 100 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 9, giật cấp 12 - 13.

Vùng III: Quảng Ninh đến Thanh Hóa (bao gồm các tỉnh thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ và các tỉnh ven biển từ Ouảng Ninh đến Thanh Hóa).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 116 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 2,0 - 2,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VII - IX. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 701 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 14, giật cấp 15 - 16. Riêng dải ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng, cấp gió mạnh nhất đã xảy ra cấp 15, giật cấp 17. Tổng lượng mưa quan trắc trung bình một đợt bão từ 150 - 200mm. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 502mm.

Vùng IV: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế (bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Ouảng Bình, Ouảng Trị, Thừa Thiên Huế)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 93 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 1,5 - 2,0 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng VIII - IX - X. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 978 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 200 - 300 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 14, giật cấp 15 - 16.

Vùng V: Đà Nẵng đến Bình Định (bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nang, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 66 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 1,0 - 1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng IX – X-XI. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 593 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 13, giật cấp 14 - 15.

Vùng VI: Phú Yên đến Ninh Thuận (bao gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận)

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 48 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình từ 0,5 -1,0 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X – XI- XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 628 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 150 - 200 mm. cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 13, giật cấp 14 - 15.

Vùng VII: Tây Nguyên (bao gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 58 cơn bão ảnh hưởng đến vùng Tây Nguyên, trung bình từ 1,0 - 1,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X - XI - XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 443 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 100 - 150 mm. Cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 9, giật cấp 10- 11.

Vùng VIII: Bình Thuận đến Cà Mau - Kiên Giang (bao gồm các tỉnh Nam Bộ và các tỉnh ven biển từ Bình Thuận đến Cà Mau - Kiên Giang).

Trong thời kỳ 1961 - 2014, có tổng số 23 cơn bão ảnh hưởng đến vùng này, trung bình có dưới 0,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng X - XI - XII. Lượng mưa một ngày lớn nhất đã xảy ra 273 mm. Tổng lượng mưa trung bình một đợt bão đã xảy ra 50 - 100 mm. Cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 10, giật cấp 12 -13.

Vùng có nguy cơ gió mạnh, mưa lớn khi bão mạnh, siêu bão đổ bộ

Nguy cơ gió mạnh, mưa lớn cho các vùng như sau:

Vùng I: Đông Bắc

Gió trong bão có thể đạt cấp 11 - 12, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 550 - 600 mm.

Vùng II: Tây Bắc

Gió trong bão có thể đạt cấp 10-11, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 350 - 400 mm.

Vùng III: Quảng Ninh đến Thanh Hóa

Gió trong bão có thể đạt cấp 15 - 16, giật trên cấp 17. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 700 - 750 mm. Riêng tại khu vực ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng, gió trong bão có thể đạt cấp 16, giật trên cấp 17, tại các đảo như Bạch Long Vĩ, Cô Tô,... nguy cơ cấp gió bão và gió giật trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp.

Vùng IV: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế

Gió trong bão có thể đạt cấp 15-16, giật trên cấp 17. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 1000 - 1050 mm. Tại các đảo ven bờ như cồn cỏ, Hòn Ngư, gió trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp. Tại khu vực vùng núi phía Tây của Nghệ An, Hà Tĩnh, gió bão thấp hơn khu vực ven biển do cường độ bão đã suy yếu sau khi di chuyển vào sâu trong đất liền.

Vùng V: Đà Nẵng đến Bình Định

Gió trong bão có thể đạt cấp 14-15, giật trên cấp 16. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 650 - 700 mm.

Vùng VI: Phú Yên đến Ninh Thuận

Gió trong bão có thể đạt cấp 14 - 15, giật trên cấp 16. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 650 - 700 mm.

Vùng VII: Tây Nguyên

Gió trong bão có thể đạt cấp 10 - 11, giật trên cấp 12. Mưa một ngày lớn nhất trong bão có thể đạt từ 450 - 500 mm.

Vùng VIII: Bình Thuận đến Cà Mau, Kiên Giang

Gió trong bão có thể đạt cấp 11 - 12, giật trên cấp 13. Mưa một ngày lớn nhất có thể đạt từ 300 - 350 mm. Đối với các đảo ven bờ như Phú Quý, Côn Đảo nguy cơ cấp gió bão và gió giật trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp.

5 vùng có nguy cơ nước dâng do bão tại dải ven biển Việt Nam

Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra tại khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh (4,5 mét), tiếp đến là tại khu vực từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa (3,5 mét), khu vực Bình Thuận đến Bà Rịa Vũng Tàu và Mũi Cà Mau đến Kiên Giang có nước dâng do bão thấp nhất (1,2 mét). Trong tương lai, khi có siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến 5,0 mét tại khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh.

Nhận định nguy cơ nước dâng do bão cho các vùng ven biển Việt Nam được đưa ra như sau:

Vùng I: Quảng Ninh đến Thanh Hóa

Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 3,5 mét, trong tương lai, khi có bão manh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến 4,9 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,7 - 2,0 mét.

Vùng II: Nghệ An đến Thừa Thiên Huế

Vùng ven biển này có thể chia thành 2 khu vực:

Khu vực II-l, từ Nghệ An đến Hà Tĩnh: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 4,5 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 5,0 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,2 - 1,7 mét.

Khu vực II-2, từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 3,9 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 4,2 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 0,5 -1,2 mét;

Vùng III: Đà Nẵng đến Bình Định

Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra tới 1,8 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,3 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,0 -1,2 mét;

Vùng IV: Phú Yên đến Ninh Thuận

Nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,7 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh, siêu bão đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,2 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,2 - 1, 4 mét.

Vùng V: Bình Thuận đến Cà Mau, Kiên Giang

Vùng ven biển này có thể chia thành 3 khu vực:

Khu vực V-l, từ Bình Thuận đến Bà Rịa Vũng Tàu: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,2 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,0 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,4 - 1,8 mét;

Khu vực V-2, từ TP.Hồ Chí Minh đến mũi Cà Mau: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 2,0 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,7 mét. Biên độ thủy triều dao động từ 1,8 - 2,0 mét;

Khu vực V-3, từ mũi Cà Mau đến Kiên Giang: nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra đến 1,2 mét, trong tương lai, khi có bão mạnh đổ bộ, nước dâng do bão có thể lên đến trên 2,1 mét. Biên độ thủy triều trong khu vực này dao động trong khoảng từ 0,8-1,1 mét.

Theo Monre

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.