Hợp tác công tư: Hướng mới xử lý chất thải y tế

Thứ Sáu, 29/07/2016, 13:36 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) xử lý chất thải y tế (CTYT) được xem là hướng đi mới được nhiều nước trên thế giới áp dụng.  Qua đó, đã huy động được nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội tham gia xử lý CTYT.

Hình thức đối tác công tư xử lý chất thải y tế được xem là hướng đi mới. Ảnh: MH
Hình thức đối tác công tư xử lý chất thải y tế được xem là hướng đi mới. Ảnh: MH

Những thí điểm ban đầu

Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế, lượng chất thải rắn y tế phát sinh hàng ngày tại các bệnh viện là 450 tấn/ngày, trong đó, chất thải y tế nguy hại là 47 tấn/ngày (chiếm 11,7%). Nước thải y tế là 125.000 m3/ngày/đêm. Hiện, có khoảng 15% cơ sở y tế (CSYT) chưa thực hiện việc xử lý CTR y tế theo đúng quy định; 42% CSYT có hệ thống xử lý nước thải (XLNT) xuống cấp, hư hỏng, không hoạt động thậm chí, chưa có hệ thống XLNT; đặc biệt, còn khoảng 172 CSYT nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải xử lý triệt để.

Trên thực tế, việc xử lý chất thải y tế theo hình thức đối tác công tư đã được triển khai từ gần 10 năm nay trong khuôn khổ các chính sách xã hội hóa, hoặc thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Tuy vậy, phải đến năm 2015, quan hệ  “công – tư” mới được luật hóa bằng Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Trong những năm qua, đã có nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia rất mạnh mẽ và có hiệu quả trong xử lý chất thải y tế. Tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã có hơn 100 bệnh viện (BV) ký hợp đồng với các công ty có chức năng để vận chuyển và xử lý rác thải y tế.

Về xử lý nước thải y tế đã có 4 BV tại TP. Hồ Chí Minh là BV Răng Hàm Mặt TW, BV Nhân Dân 115, BV Nhi Đồng 1, BV Phụ sản Hùng Vương đã triển khai Dự án BOT (đầu tư – vận hành – chuyển giao); tại tỉnh Đồng Nai đã có 1 BV triển khai Dự án BTO (đầu tư – chuyển giao – vận hành).

Nhiều lợi ích mang lại

Theo đánh giá của lãnh đạo Bệnh viện Nhi Đồng 1, triển khai theo PPP giúp tiết kiệm nguồn nhân lực cho bệnh viện (dư từ 1 - 2 biên chế), tạo điều kiện tuyển nhân sự chuyên môn để nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Bên cạnh đó, cơ chế tài chính của dự án đầu tư theo hình thức PPP tại bệnh viện giúp giảm gánh nặng đầu tư ban đầu cho các bệnh viện và chi trả cho nhà đầu tư chi phí vận hành hàng tháng trong giới hạn cho phép của ngân sách. Ngoài ra, các nhà đầu tư không chỉ cung ứng vốn, mà còn chuyển giao các phát minh, các công nghệ mới, cũng như kỹ năng quản trị tốt.

TS. Nguyễn Thị Liên Hương – Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế cho biết, qua thực tiễn kiểm tra cho thấy, chất lượng xử lý chất thải y tế luôn được tuân thủ nghiêm ngặt tại các BV triển khai đầu tư hệ thống xử lý nước thải theo hình thức đối tác công tư. Các BV triển khai dự án đầu tư theo hình thức công tư vẫn nắm quyền sở hữu, quản lý dự án, về phía các công ty thực hiện các dự án công tư về xử lý chất thải y tế với các BV có khả năng cung cấp dịch vụ liên tục, ổn định, đạt chất lượng đáp ứng nhu cầu của BV. “Lợi ích của việc hợp tác công – tư này là sử dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân. Đưa vốn tư nhân vào và giúp giảm nhẹ gánh nặng về tài chính cho BV/ngân sách Nhà nước” – TS. Nguyễn Thị Liên Hương nhấn mạnh.

Để hình thức đầu tư xử lý chất thải y tế này tiếp tục phát triển, theo các chuyên gia, thời gian tới, cần đa dang hóa mô hình PPP với các giải pháp khác để có thể tận dùng tốt các nguồn lực khác nhau và nâng cao hiệu quả xử lý chất thải tại các BV. Bộ Y tế cần phối hợp với các Bộ, ngành để nhanh chóng triển khai Nghị định 15 về đầu tư PPP theo lĩnh vực phạm vi được quản lý, trước mắt, cần có Thông tư hướng dẫn xử lý chất thải theo PPP để các đơn vị có thể áp dụng được.

Đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn về đối tác công tư trong xử lý chất thải y tế, tạo lập môi trường bình đẳng, minh bạch, hiệu quả và khuyến khích các nhà đầu tư tham gia mạnh mẽ hơn trong việc đầu tư vào các dự án xử lý chất thải.

Thụy Anh

 

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.