Hà Nội:

Mập mờ thu phí sổ đỏ tại Khu đô thị mới Tân Tây Đô

Thứ Năm, 05/03/2015, 14:20 (GMT+7)
.

(TN&MT) - Gần đây, cư dân sinh sống tại Tòa nhà CT2A – Khu Đô Thị mới Tân Tây Đô, xã Tân Lập (Đan Phượng, Hà Nội) đang bức xúc trước việc chủ đầu tư là Công ty CP Đầu tư Hải Phát (gọi tắt là Công ty Hải Phát) đã thu của người dân khoảng 2 triệu đồng/1 hộ phí đo trích lục bản đồ để làm “sổ đỏ” cho căn hộ đã mua.

Theo đơn phản ảnh của hàng trăm hộ dân ở đây, khoản thu này mang tính áp đặt, nhằm trục lợi khi làm sổ đỏ, tuy nhiên, khi họ làm việc với phía chủ đầu tư về khoản thu này thì phía chủ đầu tư lại khẳng định, họ không hề tư lợi và khoản phí này là đúng theo quy định của pháp luật mà người dân phải có trách nhiệm đóng...

Khu Đô Thị mới Tân Tây Đô do Công ty Hải Phát làm chủ đầu tư với diện tích 25,2 ha, gồm 6 tòa cao ốc cao 25 tầng CT1A, CT1B, CT2A, CT2B, HHA và HHB. Tòa nhà CT2A được Chủ đầu tư ban giao và đưa vào sử dụng từ tháng 4/2014 và hiện có khoảng 300 - 400 hộ đang sinh sống. Đến cuối tháng 12/2014, Công ty đã niêm yết Thông báo số 58 ngày 29/12  do ông Lê Quang Vinh, Phó Tổng Giám đốc Công ty ký về việc hoàn thiện hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận trong đó yêu cầu ngoài các giấy tờ thì các hộ dân phải đóng 661.000 đồng phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp GCN; phí trích đo bản đồ 2.046.000 đồng với diện tích hơn 100 m2; 1.723.000 đồng với diện tích nhỏ hơn 100 m2. Bên cạnh đó, ngoài thời gian nhận hồ sơ từ ngày 05 – 30/1, người dân tự chịu trách nhiệm làm thủ tục cấp GCN…

 

O
Phí trích đo trong thông báo của công ty

Ông Lê Anh Sở, chủ căn hộ 2215, Tòa nhà CT2A  cho biết, khi làm sổ đỏ các hộ đã phải nộp cho Công ty Hải Phát (có Phiếu thu kèm theo) tại trụ sở chính của công ty này. Khi thu tiền của cư dân, Công ty không có sự bàn bạc, thỏa thuận trước mà chỉ niêm yết và gửi Thông báo tới từng hộ về việc nộp số tiền nêu trên. Nhiều người dân ở đây không đồng ý với khoản thu “phi lý” này và làm việc với Công ty thì được Công ty khẳng định, họ không hề tư lợi và khoản phí này là đúng theo quy định của pháp luật mà người dân phải đóng. Đồng thời, nếu hộ dân nào không chấp nhận khoản phí đo trích lục bản đồ thì tự rút hồ sơ đi làm sổ đỏ nhưng không cung cấp bản vẽ trích lục.

 Một người dân sinh sống ở đây cũng cho biết thêm, nhận được thông báo làm hồ sơ cấp sổ đỏ căn hộ, mọi người trong khu nhà đều phấn khởi. Tuy nhiên, khi biết số phí khoảng 2 triệu đồng đo trích lục bản đồ đã khiến nhiều người bất ngờ. Hợp đồng mua bán căn hộ ghi rõ trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc hoàn thiện hồ sơ xin cấp sổ đỏ cho người mua nhà, vì vậy việc này phải do Công ty Hải Phát chịu trách nhiệm. Bởi, tại điều 6, Hợp đồng mua bán căn hộ về nghĩa vụ bên bán quy định: Bên bán phải bản giao căn hộ cho bên mua đúng thời hạn hợp đồng kèm theo bản vẽ mặt bằng kỹ thuật và điện nước có liên quan tới căn hộ. Đồng thời có trách nhiệm hướng dẫn bên mua hoàn thiện hồ sơ pháp lý và làm thủ tục để cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ cho bên mua và bàn giao các giấy tờ liên quan đến căn hộ cho bên mua theo quy định của pháp luật. Đó là chưa kể, theo quy định của điểm d, khoản 1, điều 72, Nghị định 43/2014 của Chính phủ đã quy định: Sau khi hoàn thành công trình, Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở có trách nhiệm gửi Sở TN&MT các giấy tờ này.

 Trong khi đó, tại Điều 35 quyết định 13/QĐ-UBND, ngày 24/4/2013 của thành phố Hà Nội quy định rõ trách nhiệm nộp hồ sơ làm sổ đỏ cho người mua nhà thuộc về chủ đầu tư, người mua nhà chỉ có trách nhiềm bổ sung hồ sơ giấy tờ theo yêu cầu của chủ đầu tư. Như vậy, rõ ràng Công ty Hải Phát phải có trách nhiệm làm sổ đỏ cho người dân tại Tòa nhà CT2A mà không phải yêu cầu người dân đóng khoản phí đo trích lục bản đồ vì vi phạm Quyết định thành phố và Hợp đồng mua bán đã ký.

Dư luận đang đặt ra nhiều câu hỏi: Nếu các khoản thu không có sự bàn thảo trước thì liệu đã thỏa đáng chưa? Chưa kể, trong hợp đồng mua nhà cũng nêu rõ chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn thiện các thủ tục pháp lý để làm sổ đỏ cho các hộ dân? Vậy khoản phí phi lý này có trái với nội dung hợp đồng và đúng với quy định của pháp luật?

Trường Tuyết

 

 

.
.
.
.
.
.
.
.
.
.